Những dịch bệnh hại cần chú ý trong tuần (từ 25/4 – 1/5)

Tại các tỉnh phía Bắc, rầy nâu, rầy lưng trắng tiếp tục phát sinh gây hại tăng nhanh trên lúa trà sớm trỗ bông – chín sữa, lúa chính vụ làm đòng….

1. Trên lúa:

a) Các tỉnh phía Bắc – Bệnh đạo ôn hại lá: Tiếp tục phát sinh gây hại trên lúa giai đoạn cuối đẻ nhánh – đứng cái, hại nặng trên những chân đất cát pha, thịt nhẹ, vùng bãi ven sông, vùng bán sơn địa thiếu nước, những chân ruộng bón nhiều đạm, vùng ổ dịch hàng năm, gây cháy lụi trên các giống nhiễm. Cần theo dõi thường xuyên và hướng dẫn các biện pháp phòng chống kịp thời. – Bệnh đạo ôn hại cổ bông: Phát sinh gây hại trên lúa trà sớm giai đoạn cuối đứng cái – làm đòng. Đặc biệt trên những ruộng gieo cấy các giống nhiễm, bị đạo ôn lá nặng, bón phân không cân đối, thừa những chân đất cát pha, thịt nhẹ, vùng bãi ven sông vùng bán sơn địa thiếu nước, gây cháy lụi trên các giống nhiễm đạm. – Chuột: Tiếp tục phát sinh gây hại tăng nhanh trên lúa trà sớm trỗ bông – chín sữa, lúa chính vụ làm đòng tại các tỉnh. – Rầy nâu, rầy lưng trắng: Tiếp tục phát sinh gây hại tăng nhanh trên lúa trà sớm trỗ bông – chín sữa, lúa chính vụ làm đòng. Một số diện tích có mật độ cao xảy ra tình trạng cháy chòm nếu không được phòng trừ tốt. – Sâu cuốn lá nhỏ: Trưởng thành lứa 2 tiếp tục vũ hóa. – Các đối tượng khác gây hại nhẹ, rải rác trên các trà lúa.

b) Các tỉnh Nam Trung bộ và Tây Nguyên – Sâu đục thân 2 chấm, bệnh khô vằn, rầy nâu, rầy lưng trắng… rải rác hại nhẹ trên lúa đông xuân muộn trỗ chắc. – Sâu cuốn lá nhỏ phát sinh hại nhẹ lúa xuân hè giai đoạn đẻ nhánh – cuối đẻ nhánh; sâu keo, bọ trĩ… phát sinh hại chủ yếu lúa xuân hè, hè thu sớm giai đoạn mạ – đẻ nhánh. – Chuột: Hại nhẹ chủ yếu trên lúa xuân hè giai đoạn đẻ nhánh – cuối đẻ và lúa hè thu sớm giai đoạn gieo sạ – đẻ nhánh. – Ốc bươu vàng: Tập trung ở vùng trũng thấp.

c) Các tỉnh phía Nam – Rầy nâu trên đồng phổ biến tuổi 5 – trưởng thành, tuy nhiên sẽ không tập trung mà tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng khu vực. Vì vậy các tỉnh không nên chủ quan, cần quản lý tốt nguồn rầy nâu tại chỗ nhằm hạn chế thấp nhất khả năng lan truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá do rầy nâu gây ra cho lúa hè thu. Ngoài ra cũng cần lưu ý đến các đối tượng như cỏ dại nhất là lúa cỏ, bọ trĩ chú ý trên những ruộng khô thiếu nước; sâu năn, rầy phấn trắng, bệnh bạc lá ở giai đoạn đẻ nhánh – đòng trỗ.

2. Trên cây trồng khác:

Sâu đục thân, sâu cắn lá hại ngô; sâu đục thân đậu tương; sâu xanh, sâu tơ, bọ nhảy… gây hại rau có chiều hướng gia tăng, cần theo dõi và phòng trừ kịp thời. Cây hồ tiêu: Tuyến trùng rễ, bệnh chết nhanh, chết chậm hại tăng. Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại nhẹ. Cây nhãn: Bệnh chổi rồng nhãn tiếp tục gây hại ở các tỉnh ĐBSCL.

(Nguồn: CỤC BVTV)


Côn trùng, nguồn thức ăn tốt…

Trước kia côn trùng (thường được gọi là sâu bọ) là loài động vật bỏ đi. Một số tộc người, đặc biệt là ở châu Âu và châu Mỹ còn ghê tởm các loài sâu bọ. Do đó người ta thường nói “đồ sâu bọ” có nghĩa là đồ bỏ đi….

Gần đây, nhận thức này đã thay đổi. Hiện nay trên thế giới, tỷ lệ người coi côn trùng là thức ăn tốt chiếm 64%, là thức ăn bình thường chiếm 20%, là thức ăn “ghê tởm” chỉ chiếm 16%. Đã có khoảng 2 tỷ người đã bổ sung chất dinh dưỡng bằng côn trùng. Vừa qua, Tổ chức Nông nghiệp và lương thực (FAO) của Liên Hiệp quốc đã khuyến khích việc sử dụng côn trùng làm thức ăn cho con người và vật nuôi. Ưu điểm của việc sử dụng côn trùng làm thức ăn cho con người và vật nuôi là: – Có nhiều loại côn trùng. – Côn trùng có khả năng thích ứng với nhiều điều kiện ngoại cảnh khác nhau. – Côn trùng có vòng đời ngắn, tái tạo đàn nhanh. – Điều kiện nuôi dưỡng côn trùng đơn giản, không tốn kém nhân công, vật tư. – Côn trùng không cần năng lượng để duy trì nhiệt độ cơ thể. – Hiệu quả chuyển hóa thức ăn tốt: Để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm bò phải mất một thời gian dài hơn dế 12 lần. Khả năng chuyển hóa thức ăn thành sinh khối và dế lớn hơn bò thịt 5 lần. – Chất lượng sản phẩm tốt: Tỷ lệ protein, chất lượng trong côn trùng cao. Tỷ lệ protein của mọt gỗ là 30% và của ong bắp cày là 80%. Năng lượng của 100gr côn trùng cao hơn năng lượng của ngũ cốc, rau và thịt. Lượng kẽm, đồng, sắt, magiê ở côn trùng cao hơn thịt bò, cá, thịt gà tây, sữa và trứng. – Thức ăn của côn trùng chủ yếu là cây cỏ (thức ăn thực vật), các chất phế thải nông, công nghiệp và đời sống, không cạnh tranh lương thực với loài người. – Nuôi côn trùng không làm cho môi trường bị ô nhiễm, đặc biệt côn trùng không tạo ra chất thải gây hiệu ứng nhà kính (một nguyên nhân làm cho bầu không khí của trái đất nóng lên và nước biển dâng). Trên thế giới đã có nhiều nước sử dụng côn trùng làm thức ăn, đặc biệt là các loài kiến: – Kiến mật, có chiếc bụng căng phồng chứa đầy mật, được thổ dân Úc rất ưa chuộng. – Kiến cắt, có mùi vị như thịt xông khói, được người Nam Mỹ rất ưa thích. – Kiến chanh, có mùi vị như chanh được các thổ dân ở Amazon ưa dùng. – Ngoài ra người dân Colombia, Guatemala, Trung Quốc và Brazil cũng hay sử dụng các loài kiến của nước họ. Ở Việt Nam, từ lâu đã có một số món ăn từ côn trùng khá phổ biến: nhộng tằm – cà cuống – châu chấu – dế mèn – ấu trùng của các loại ong, ve sầu. Nhưng tất cả các loài côn trùng này đều là phụ phẩm của các ngành nghề (nhộng tằm là của nghề tằm tơ) hoặc là côn trùng bắt được trong tự nhiên (cà cuống – châu chấu – dế mèn – ấu trùng của ong…) chưa có loại côn trùng do người ta gây nuôi. Để phát triển chăn nuôi gia cầm (một loài vật nuôi có hiệu suất chuyển hóa thức ăn thành sản phẩm chăn nuôi có hiệu quả cao: 1,5 – 1,8 kg thức ăn cho 1kg sản phẩm quay vòng nhanh), người ta đã bắt đầu gây nuôi các loại côn trùng để thay thế cho protein thực vật, đặc biệt là thay thế cho đậu tương (năng suất đậu tương ở Việt Nam thấp, giá thành cao, phải nhập nội từ Nam Mỹ và Hoa Kỳ)….

(Nguồn: Báo Nông nghiệp)


Gạo thơm, gạo nếp thiếu nguồn cung…

Xuất khẩu gạo thơm, gạo nếp trong những tháng đầu năm nay tăng mạnh đến mức nhiều DN đang khó tìm mua được nguồn hàng để XK. Giá những loại gạo này cũng tăng cao trên thị trường nội địa khi các DN tranh nhau mua….

Gạo thơm, gạo nếp thiếu nguồn cung

Trong tháng 3 vừa rồi, với dân làm gạo ở ĐBSCL, nóng nhất là chuyện giá gạo nếp tăng chóng mặt. Chỉ trong vòng 1 tháng, giá gạo nếp đã tăng thêm tới 2.000 đ/kg và hiện đang ở mức từ 12.000 đ/kg trở lên. Giá gạo thơm cũng tăng, nhưng không mạnh như gạp nếp. Dầu vậy, gạo thơm cũng đã tăng từ 700 – 1.000 đ/kg so với hồi đầu vụ và hiện đang có giá 9.100 – 9.200 đ/kg (giống OM 5451). Theo ông Lê Thanh Danh, GĐ Chi nhánh Đầu tư và phát triển vùng nguyên liệu ĐBSCL (TCty Lương thực miền Bắc), giá gạo nếp và gạo thơm tăng mạnh do nhu cầu thu mua XK 2 loại gạo này đang rất cao ở ĐBSCL. Gạo thơm và gạo nếp đang được XK mạnh nhất sang thị trường Trung Quốc. Thương nhân Trung Quốc đang mua gạo thơm và gạo nếp Việt Nam một cách thường xuyên. Bên cạnh đó, nhu cầu XK gạo thơm sang một số thị trường ở Trung Đông, châu Phi… cũng gia tăng. Trong khi đó, thông tin từ một số nhà cung ứng gạo XK cho hay sản lượng gạo thơm và gạo nếp năm nay có giảm sút do ảnh hưởng của khô, hạn. Sản lượng giảm trong khi nhu cầu thu mua XK lại tăng mạnh, các doanh nghiệp cung ứng gạo đang cạnh tranh nhau khá gay gắt trong việc thu mua gạo thơm, gạo nếp. Đó là những nguyên nhân khiến cho giá gạo thơm, gạo nếp tăng cao. Nhưng điều đáng ngại hơn là nguồn gạo thơm, gạo nếp bị thiếu hụt đang khiến cho nhiều DN bị hụt chân hàng XK. Ông Danh cho biết, do giá gạo nếp tăng lên quá nhanh khiến cho nhiều kho và DN XK không xoay xở kịp vốn liếng để thu mua đáp ứng cho các đơn hàng. Đây là điều đáng tiếc khi mà giá gạo nếp đang ở mức khá tốt (gần 500 USD/tấn). Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, nhu cầu thu mua gạo thơm, gạo nếp để giao hàng trong thời gian tới là khá lớn. Đến hết tháng 3, dù đã XK gần 1,5 triệu tấn gạo, nhưng các DN XK gạo vẫn còn trong tay trên 1,4 triệu tấn gạo đã ký hợp đồng XK và sẽ giao hàng trong thời gian tới. Trong đó, có gần 1,3 triệu tấn gạo ký theo các hợp đồng thương mại, chủ yếu là gạo thơm và gạo nếp. Cụ thể, lượng gạo thơm đã ký hợp đồng để giao trong thời gian tới là 492 ngàn tấn, gạo nếp là 329 ngàn tấn. Đấy là chưa tính tới những hợp đồng mới đang và sẽ tiếp tục được ký kết. Từ đầu năm đến nay, gạo thơm và gạo nếp đều có sự tăng trưởng mạnh, thậm chí là tăng đột biến (gạo nếp) về XK. Cụ thể, trong 3 tháng đầu năm, lượng gạo thơm XK đã đạt 312.151 tấn và gạo nếp 149.017 tấn. So với cùng kỳ năm ngoái, lượng gạo thơm XK trong 3 tháng qua tăng tới 67,58%, còn gạo nếp tăng 200,16% (là mức tăng cao nhất trong các loại gạo XK). Nhờ có sự tăng trưởng mạnh nên trong cơ cấu gạo XK, gạo thơm và gạo nếp đều chiếm tỷ trọng đáng kể: gạo thơm chiếm 21,89% và nếp chiếm 10,45%. XK gạo thơm tăng mạnh là do nhu cầu NK gia tăng từ châu Phí và Trung Quốc. Trong đó, tháng 3 là tháng XK gạo thơm mạnh nhất với 152.000 tấn, chủ yếu đi Trung Quốc và Ghana. Đây là mức XK kỷ lục của 1 tháng đối với gạo thơm trong 3 năm trở lại đây. Còn sự gia tăng tới mức đột biến của gạo nếp, chủ yếu đến từ thị trường Trung Quốc. Trong cả năm 2015, Trung Quốc đã NK khoảng 391.800 tấn gạo nếp từ Việt Nam (giảm 5,9% so năm 2014). Nhưng riêng trong tháng 3 vừa rồi, Việt Nam XK 118.000 tấn gạo nếp thì có tới 114.000 tấn đi Trung Quốc. Trong 3 tháng đầu năm nay, như đã nói ở trên, lượng gạo nếp XK đã đạt 149.017 tấn, ngoài ra còn 329.000 tấn gạo nếp đã ký hợp đồng. Do đó, đến giờ này đã có thể khẳng định XK gạo nếp trong cả năm nay sẽ cao hơn nhiều so với năm ngoái….

(Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam)


Cá biển chết hàng loạt dọc 4 tỉnh miền Trung

Dải bờ biển chạy qua các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế đều ghi nhận cá biển chết hàng loạt, trong đó có nhiều loài sống xa bờ, ở tầng sâu, trọng lượng tới 35-50 kg.

ca-bien-chet-hang-dai-ven-bien-o-hue-nghi-do-nong-do-ph-tang-cao

Nhiều loài cá được người dân nuôi ở hồ nuôi ven biển xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc (Thừa Thiên – Huế) chết trắng, dạt bờ. Ảnh: Đắc Đức.

Vài ngày nay, ngư dân xã Lộc Vĩnh (Phú Lộc, Thừa Thiên – Huế) phát hiện nhiều loại cá như chình, đuối, vẩu… chết ngập cả bãi biển. Vốn là ngư dân có nhiều năm kinh nghiệm, ông Nguyễn Xuân Thảo (57 tuổi, thôn Phú Hải, xã Lộc Vĩnh) không thể nào lý giải được hiện tượng này. Nhiều loài sinh sống ở đáy biển và rất khó đánh bắt, nay cũng chết dạt bờ.

“Từ nhỏ đến giờ, chưa lần nào tôi thấy cá biển chết một cách kỳ lạ như vậy. Người dân ai cũng hiếu kỳ, muốn biết rõ nguyên nhân lắm”, ông Thảo nói và cho hay nhiều ngư dân đã chấp nhận phơi thuyền, không vươn khơi nhiều ngày nay vì những chuyến đi biển giờ không còn nhiều cá để bắt.

Hộ ông Nguyễn Văn Tạo (thôn Bình An, xã Lộc Vĩnh) cùng một số hộ dân có lồng cá, hồ nuôi nằm sát cửa biển Lạch Giang cũng ghi nhận hiện tượng cá chết trắng hồ, bốc mùi hôi. “Hai hôm trước khi thủy triều dâng, nước biển tràn qua nhiều hồ nuôi. Đến khi thủy triều rút đi thì nhiều loài cá trong hồ và ở các sông cũng chết dần, nổi lềnh bềnh”, ông Tạo nói.

ca-bien-chet-hang-dai-ven-bien-o-hue-nghi-do-nong-do-ph-tang-cao-1

Ngư dân Nguyễn Xuân Thảo (xã Lộc Vĩnh) cho hay, sau khi xuất hiện cá chết, nhiều hộ dân đã phơi thuyền, không ra khơi đánh cá. Ảnh: Đắc Đức.

Ông Lê Công Minh, Chủ tịch UBND xã Lộc Vĩnh cho biết, tình trạng cá chết xảy ra từ ngày 14 đến 18/4, nằm rải rác trên bờ biển trải dài gần 20 km do xã quản lý. Trong số cá chết do dân gom nhặt, có nhiều loài sống cách xa bờ.

“Đây là hiện tượng rất kỳ lạ, từ trước đến nay tại địa phương chưa hề có. Có hôm, người dân nhặt được con cá vẩu biển nặng đến 35 kg”, ông Minh nói và cho hay khi cá chết nhiều, chính quyền đã khuyến cáo người dân không bơm nước từ biển vào hồ nuôi, không ăn cá chết để tránh ảnh hưởng đến sức khỏe.

Trong khi đó, ông Trần Văn Giảng, Chủ tịch UBND thị trấn Lăng Cô (Phú Lộc) cho hay, không chỉ cá biển dạt bờ mà nhiều diện tích nuôi cá lồng của người dân ở Dốc Giềnh, thôn An Cư Đông (khu vực cửa biển Lăng Cô) cũng ghi nhận tình trạng cá chết. Gần 5 tấn cá của hơn 100 hộ dân nuôi nhiều giống như: hồng, mú, vẩu… đã chết, gây thiệt hại gần một tỷ đồng.

Theo ông Giảng, không loại trừ khả năng nước biển bị ô nhiễm nặng là nguyên nhân làm cho một lượng lớn cá chết trôi dạt vào bờ trên diện tích gần 21 km đường bờ biển tại Lăng Cô.

ca-bien-chet-hang-dai-ven-bien-o-hue-nghi-do-nong-do-ph-tang-cao-2

Một con cá vẩu trọng lượng lên đến 35 kg chết dạt vào bờ biển xã Lộc Vĩnh vào ngày 18/4. Ảnh: Lê Minh.

“Bước đầu, kết quả kiểm tra của ngành chức năng địa phương ghi nhận độ pH trong nước biển tăng cao, trong khi hàm lượng ôxy lại thấp, dẫn đến tình trạng thiếu hụt ôxy. Đây được cho là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng cá chết”, ông Giảng thông tin.

Ông Bạch Văn Khai, Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Phú Lộc, cho biết đã lấy mẫu nước gửi Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thừa Thiên – Huế để kiểm nghiệm. “Riêng nồng độ pH tăng đột biến từ 7,5 lên 8,5”, ông Khai nói và cho biết vẫn đang đợi kết luận chính xác từ đơn vị chức năng để thông báo cho người dân an tâm.

Ảnh: Cá chết giắt dày đặc khe đá dọc bờ biển Hà Tĩnh

Hiện tượng cá chết lần đầu tiên được ghi nhận ở các lồng bè nuôi trên biển, gần khu kinh tế Vũng Áng (thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh) vào đầu tháng tư. Sau đó cá biển tự nhiên, cá nuôi lồng bè và cá hồ ven biển của Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế đồng loạt chết. Mỗi ngày, ngư dân xã ven biển thu gom được hàng tấn cá chết, mỗi con trọng lượng từ vài lạng tới 50 kg.

Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I (Trung tâm quan trắc môi trường và bệnh thủy sản miền Bắc) qua kiểm tra môi trường nước, tác nhân gây bệnh, kết luận các yếu tố thông thường và khí độc do phân hủy hữu cơ không phải là nguyên nhân khiến cá chết. Nguyên nhân trực tiếp nhiều khả năng là các yếu tố gây độc trong nước, có thể từ nguồn nước thải chưa được xử lý đổ ra sông, biển.

Hiện yếu tố độc này là gì thì chưa được tìm ra.

(Theo Vnexpress.net)

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp Thừa Thiên – Huế (bằng dụng cụ test nhanh) cho thấy hàm lượng PO4  tầng đáy 1 mg/lít; pH 8,8; độ kiềm 89,5; độ mặn 30 phần nghìn. Cụ thể, chất lượng nước phú dưỡng (PO4 theo chỉ tiêu cho phép tối đa là 0,5 mg/lít, nhưng tại thời điểm đo là 1 mg/lít) làm tăng độ pH. Đây có thể là nguyên nhân làm cho cá sốc và chết hàng loạt do pH nước thay đổi đột ngột; PO4 tăng cao.

Ngoài ra, tảo phát triển mạnh, kết hợp với khí độc ở đáy lồng tích tụ bốc lên khi nhiệt độ tăng cao trong thời điểm giao mùa dẫn đến thiếu ôxy cục bộ làm cho cá chết nhanh.


Decal TRICHODERMA 3E Thuan Tam Xuyen A_(160 x 240) mm A

Quy trình sử dụng chế phẩm men vi sinh Trichoderma Xa để ủ phân hữu cơ

I. Chuẩn bị vật liệuphân hữu cơ  chủng nấm TRICHODERMA XA

Nguyên liệu: – Dư thừa thực vật (đã phơi héo): Vỏ cà phê, Rơm rạ, cỏ, lục bình, lá cây… (các xác bã thực vật).

– Phân chuồng (đã mất mùi hôi): 1/4 tổng thể tích.

– Bạt nhựa phủ giử ẩm.

II. Phương Pháp thực hiện:

 – Gom hữu cơ thành đống: Đáy 2 m, cao 1,2 – 1,5 m.

  • Tưới nước vừa đủ ẩm (nắm chặt vừa rịn nước). Đạp chân để đống hữu cơ được nén dẽ xuống
  • Tưới nấm TRICHODERMA XA (200 – 300 g/m3, hoặc 1kg/1 tấn)). Phủ bạt nhựa để giữ ẩm. Tưới nước bổ sung hằng tuần để đủ ẩm.
  • Đão đống ủ sau 3 tuần. Đống ủ hoai sau 6-8 tuần.
  • Có thể dùng phân hoai mục làm bầu cây con để phòng trị bệnh cây trồng.

(Ks.Nguyễn Tiến Lâm)