Hình ảnh minh họa

PHÒNG TRỪ NHỆN ĐỎ HẠI CÀ TÍM

Cà tím là một loại rau khá quen thuộc ở n­ước ta. Bên cạnh rệp sáp hại trái non, sâu đục trái, bệnh thối trái… thì nhện đỏ cũng là một đối t­ượng gây hại t­ương đối nhiều cho cây cà (tùy theo vùng và mùa vụ trong năm) đôi khi khá trầm trọng, làm cho bộ lá của cây cà mất mầu xanh, bị bạc trắng, vàng úa rồi trút rụng sớm. Nếu bị hại nặng sẽ ảnh h­ưởng rất nhiều đến năng suất, sản lượng và phẩm chất của trái cà.

Hình ảnh minh họa

Hình ảnh minh họa

Nhện đỏ có cơ thể rất nhỏ (khoảng cỡ gần một mm). Khi vừa nở nhện con có mầu xanh hơi vàng, lớn lên chúng chuyển dần sang màu hồng và màu đỏ đậm. Thực tế đồng ruộng cho thấy, nhện th­ường gây hại trên những lá đã bư­ớc vào giai đoạn bánh tẻ trở đi và thư­ờng chỉ hại phiến lá. Tuy nhiên, nếu mật số cao chúng có thể hại cả trên gân lá. Khi những lá bánh tẻ và lá già đã bị chúng ăn hết phần xanh, thức ăn thiếu chúng có thể ăn luôn cả những lá còn non và vỏ trái cà.

Cả nhện trư­ởng thành và nhện non đều bu bám ở mặt d­ới của phiến lá (nếu mật số cao có thể thấy chúng “tràn” lên cả mặt trên của lá). Chúng cạp ăn biểu bì và hút dịch của lá, tạo nên những vết trắng lấm tấm nhìn như­ rắc bụi cám. Ban đầu vết cạp chỉ rải rác sau đó số vết cạp cứ tăng dần nối liền lại với nhau làm cho lá mất dần mầu xanh chuyển sang mầu trắng xám, phiến lá bị phồng lên như­ bánh tráng (bánh đa) nư­ớng. Nếu nặng lá sẽ bị khô và rụng sớm. Những ruộng bị nặng nhìn ở gốc thấy t­ương đối thoáng do lá phía d­ưới đã bị rụng bớt, những ruộng này sẽ bị thất thu lớn về năng suất.

Nhện đỏ có thể đ­ược coi là một loại “sâu” đa thực vì ngoài cà tím chúng còn gây hại cho nhiều loại cây khác nh­ư cà pháo, cà bát, bầu bí, đậu, d­ưa leo… Nhện thư­ờng phát sinh và gây hại trong điều kiện mùa khô nóng nhiều hơn ở mùa mư­a có thời tiết mát mẻ.

Vì cơ thể của nhện rất nhỏ nên mắt th­ường nếu không chú ý sẽ rất khó phát hiện (nhất là những nhà v­ườn mới b­ước vào nghề) nên đã có những chủ vườn cứ t­ưởng lá bị bạc trắng là do cây bị bệnh rồi mua thuốc trị bệnh về xịt như­ng không thấy “bệnh tình” của cây thuyên giảm.

Để hạn chế tác hại của nhện có thể áp dụng kết hợp một số biện pháp như­:

– Không nên trồng quá dầy làm cho tán lá rậm rạp, nhện có điều kiện thuận lợi gây hại nhiều hơn.

– Thư­ờng xuyên kiểm tra ruộng cà để phát hiện và phun thuốc diệt trừ nhện kịp thời. Nếu thấy trên lá có những vết cạp trắng lấm tấm như­ cám thì kiểm tra nhện thật kỹ bằng cách dùng kính lúp học sinh kiểm tra kỹ những lá này, nếu không có kính lúp có thể dùng kính lão (kính đọc sách cho những ng­ười cao tuổi). Cũng có thể kiểm tra bằng cách gián tiếp là lấy lá nghi có nhện đặt ngửa lên một tờ giấy trắng sau đó dùng tay miết nhẹ ở phía trên của mặt lá, nhấc lá ra khỏi tờ giấy nếu thấy trên giấy có những chấm mầu vàng xanh, mầu hồng hay mầu đỏ thì chứng tỏ những lá này đang có nhện, những chấm này càng nhiều chứng tỏ mật số nhện càng cao.

– Khi ruộng có mật số nhện cao thì phải phun thuốc để diệt nhện kịp thời. Nhện đỏ có khả năng kháng thuốc cao, vì thế để giảm bớt áp lực gây kháng thuốc cho nhện nên dùng luân phiên nhiều loại thuốc  có hoạt chất  như­: Propargite, Pyridaben, Fenpyroximate…. (sử dụng theo khuyến cáo trên nhãn thuốc). Nhớ phải xịt ­ướt đều cả mặt dưới và mặt trên của lá, chú ý đảm bảo thời gian cách ly của thuốc. Sau khi xịt thuốc nên bón bổ sung thêm phân để cây nhanh chóng phục hồi.

Nguồn: NNVN


TÁC ĐỘNG KỸ THUẬT ĐỂ CÂY BÍ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN THUẬN LỢI

Hỏi: Tôi đã trồng bí đỏ bằng phương pháp làm đất tối thiểu trên đất 2 lúa nhưng thời tiết vừa qua có mưa kéo dài liên tục khiến cây khó phát triển. Xin chuyên gia cho biết cần tác động kĩ thuật thế nào để cây bí sinh trưởng và phát triển thuận lợi?

Trả lời: Trước hết bạn cần khơi thông mương máng, nạo vét sao cho nước được tháo kiệt các dõng luống. Nếu bí đã trồng được sau một tuần cần xới phá váng bề mặt luống mé trồng cây để được thông thoáng. Sử dụng các chế phẩm phân bón qua lá siêu lân hoặc nấm cộng sinh tưới gốc để bộ rễ bí nhanh phát triển.

– Khi đất ruộng đã khô ráo thì tiến hành làm luống bổ sung. Nên chọn loại phân tổng hợp cao cấp như 16- 6-16, 12- 5-10, 12- 3-10, 16- 16-8… để bổ sung dinh dưỡng kịp thời giúp cây sinh trưởng và phát triển thuận lợi ngay giai đoạn đầu. Bón phân thúc lúc này cần bón xa gốc(khoảng 20 – 25cm) sau đó xới đất lấp phân và vun gốc. Không để bí bò xuống mặt ruộng đã phủ rơm rạ.

– Bấm ngọn khi cây có 5 – 6 lá thật. Tùy theo mật độ trồng và đặc điểm mỗi giống bí mà có thể để 2 – 3 nhánh/cây.

Kinh nghiệm thực tế cho thấy với loại phân 12-5-10 hoặc 12-3-10 bón thúc làm 3 đợt: Đợt 1 (bí được 5 – 6 lá lúc bấm ngọn) bón 15 – 25 kg/sào Bắc bộ. Đợt 2 khi cây ra hoa rộ và đợt 3 khi bí rộ quả bón mỗi lần 10 – 12kg sẽ cho năng suất bí cao, chất lượng tốt, quả lại đồng đều và cây ít bị sâu bệnh.

* Chú ý: Bón phân thúc không nên hòa nước tưới gốc sẽ rất dễ làm cây thối hỏng rễ. Tốt nhất nên bón theo phương pháp “chặn đầu” cây sẽ hút dinh dưỡng dễ dàng. Lần cuối cùng bón thúc có thể đưa nước vào các dõng luống rồi rắc phân vào dõng, khoắng cho tan để nước phân ngấm dần vào luống.

Nên bổ sung vào vùng rễ bí một số chế phẩm chứa nấm Trichodecma để hạn chế vi khuẩn và nấm gây hại, không nên tưới đạm đơn lẻ cho cây. Thường xuyên giữ ẩm cho cây, tuyệt đối không nên để luống đất quá khô hoặc quá ẩm bí sẽ có nguy cơ thối rễ, đứt rễ chết rũ hàng loạt.

– Có thể áp dụng biện pháp thụ phấn bổ sung để tăng khả năng đậu quả cho bí khi thời tiết không ưu tiên.

– Phòng trừ sâu bệnh: Lưu ý phòng trừ tốt các loài sâu bệnh hại chính như sâu ăn tạp, bọ trĩ, nhện đỏ, bọ phấn, bệnh sương mai, phấn trắng hoặc nứt thân chảy nhựa, thối đốt, héo xanh. Trong đó các loài sâu chích hút gây hại mạnh từ tháng 10 – 11 khi thời tiết hanh khô kéo dài. Cần điều tra và phun trừ kịp thời tránh để ngọn, lá non bị gây hại nặng. Các loài nấm bệnh phát sinh gây hại chủ yếu khi thời tiết có sương hay mưa ẩm thường xuyên, cần phòng bệnh tốt bằng nhiều biện pháp thích hợp.

(Nguồn tham khảo: Báo Nông nghiệp)


Phòng bệnh chết nhanh, chết chậm hồ tiêu

Bệnh chết nhanh, chết chậm bấy lâu nay được coi là nỗi kinh hoàng với người trồng tiêu. Để xử lý bệnh “nan y” này thì biện pháp canh tác mang tính quyết định

11-53-08_dsc_0309

Theo các tài liệu của Cục BVTV, bệnh chết nhanh do nấm Phytophthora spp gây ra. Trong đó, 2 loài nấm Phytophthora tropicalis và Phytophthora capsici gây hại nặng nhất.

Bệnh chết chậm do sự kết hợp gây hại của tuyến trùng và nấm trong đất. Một số loài tuyến trùng nội ký sinh, ngoại ký sinh gây hại như Meloidogyne spp, Meloidogyne incognita, Rotylenchulus reniformis, Tylenchus sp, trong đó gây hại chủ yếu là giống Meloidogyne spp gây ra các nốt u sưng trên rễ; các loài nấm trong đất gây hại như Fusarium solani, Lasiodiplodia theobromae, Rhizoctonia solani, Pythium sp,… ngoài ra, rệp sáp hại rễ làm tăng mức độ bệnh.

Theo TS Bùi Xuân Phong, Cục BVTV, tính chất quyết định trong việc phòng bệnh, hạn chế bệnh chết nhanh, chết chậm là biện pháp canh tác phù hợp. Cần chú ý thoát nước trong mùa mưa. Nên đào hệ thống thoát nước theo ô bàn cờ, độ sâu 40 – 50cm (3 hàng ngang một rãnh, 3 hàng dọc 1 rãnh). Nếu đất có độ dốc cao đào theo hình xương cá, rãnh thoát nước chính sâu trên 50cm xung quanh vườn. Vào đầu mùa mưa phải phá bồn giữ nước quanh gốc tiêu (nếu có) để chống đọng nước.

Trụ tiêu tốt nhất nên trồng trụ sống bằng các loại cây cây keo dậu, bông gòn, muồng, lồng mức,… thay thế trụ bê tông hoặc trụ gỗ.

Bón phân NPK cân đối, chú trọng bón phân hữu cơ, tủ xác thực vật vào gốc tiêu để bổ sung chất hữu cơ cho đất, vừa có tác dụng giữ ẩm đất vào mùa khô, vừa phát huy hệ vi sinh vật có ích và hạn chế bệnh.

Thường xuyên kiểm tra vườn để phát hiện bệnh sớm, thu gom tàn dư cây bị bệnh mang ra khỏi khu vực vườn tiêu rồi đốt tiêu hủy, xử lý đất tại các gốc tiêu bị bệnh bằng vôi bột. Cắt cành, dây lươn sát mặt đất để gốc tiêu thông thoáng, hạn chế lây lan nguồn nấm bệnh từ đất lên.

Sau khi thu hoạch, tiến hành dọn vườn, khử trùng bề mặt và nâng cao độ pH của đất bằng vôi bột với lượng 1.000kg/ha, chia làm 2 lần, mỗi lần 500kg (không rắc trực tiếp vào gốc và rễ cây) hoặc rắc xuống hệ thống rãnh thoát nước (500 – 700kg/ha) để khử trùng nguồn bệnh.

Song song với các biện pháp canh tác, cần ưu tiên sử dụng chế phẩm sinh học, thuốc BVTV an toàn để phòng, trừ bệnh.

Cũng theo TS Bùi Xuân Phong, Cục BVTV khuyến cáo nên phòng bệnh cho tiêu bằng chế phẩm sinh học chứa nấm đối kháng Trichoderma, xạ khuẩn Streptomyces,…( Sản phẩm TRICHODERMA XA – Do cty TNHH VTNN Xuyên Á cung cấp); Các sản phẩm thảo mộc trừ tuyến trùng chứa hoạt chất Saponin, Ankanoid,…; Phòng chống rệp sáp gốc bằng các chế phẩm nấm ký sinh côn trùng Metarhizium, vi khuẩn Bacillus, …

Các chế phẩm sinh học trên kết hợp với các đợt bón phân cho cây, rắc chế phẩm trong vùng rễ tiêu rồi phủ lớp đất lên, tưới đủ ẩm.

Đặc biệt, cần lưu ý sử dụng các thuốc BVTV an toàn, thời gian cách ly ngắn như hoạt chất Phosphorous acid,… để phòng chống bệnh và tăng sức đề kháng cho cây tiêu, liều lượng và cách sử dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

Nếu trụ tiêu bị bệnh chết chậm cần xử lý trừ tuyến trùng bằng thuốc chứa hoạt chất Chitosan, Ethoprophos, Carbosulfan, Clinoptilolite, Diazinon,…; trừ nấm gây bệnh bằng thuốc có hoạt chất Fosetyl aluminium, Dimethomorph, Chlorothalonil + Mandipropamid, Copper Hydroxide, Cuprous oxide + Dimethomorph,… Cần xử lý vào đầu hoặc giữa mùa mưa, liều lượng và cách sử dụng thuốc theo khuyến cáo ghi trên bao bì.

Sau xử lý thuốc BVTV 7 ngày, tiếp tục xử lý kích thích ra rễ bằng một trong các loại thuốc kích thích sinh trưởng, phân bón có khả năng kích thích ra rễ hoặc phân hữu cơ sinh học. Trường hợp xử lý trụ tiêu bệnh bằng thuốc BVTV có hoạt chất Phosphorous acid cần tuân thủ theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

Riêng đối với các trụ tiêu bị bệnh nặng, năng suất không đáng kể (2 năm liền chỉ thu được dưới 1 kg/trụ/năm) hoặc cây chết, nên thu gom, tiêu hủy để vệ sinh đồng ruộng; xử lý hố trồng bằng chế phẩm sinh học tối thiểu 30 ngày trước khi trồng lại.

(Nguồn: Báo NNVN)


Bệnh khảm lá, chùn ngọn trên dưa và bầu bí

Bệnh khảm lá, vàng lá, chùn ngọn… thường rất phổ biến trên các loại dưa và cây họ bầu bí, đặc biệt bệnh thường nặng ở những vùng có khí hậu nóng, khô hạn và trồng nhiều loại cây trồng họ bầu bí.

Bệnh đã làm giảm đáng kể năng suất và chất lượng cây trồng. Những vườn bị nhiễm bệnh sớm khi cây còn nhỏ sẽ không cho thu hoạch. Dù vậy, cho đến nay nhiều chủ vườn vẫn chưa rõ nguyên nhân và cách khắc phục loại bệnh này. Mùa khô năm 2016 được dự báo rất nóng và khô hạn, vì vậy có nguy cơ bị bệnh rất cao.

Tác nhân gây bệnh: Bệnh khảm lá, vàng lá, chùn ngọn… do một số loài virus gây ra. Các virus này ký sinh trên một số loại cây trồng, ví dụ: thuốc lá (virus TMV), khoai tây (PVY), cây ớt (PMMV) và chính virus từ họ bầu bí (CMV)…

Cách lan truyền và nguồn bệnh: Tác nhân gây bệnh là do virus nên phải có các môi giới truyền bệnh (các vector) như rệp (Aphid), bọ phấn trắng (Bemisia tabaci), bọ trĩ (Thrips)… Các côn trùng mang virus từ cây bệnh rồi gieo rắc sang cây khoẻ. Trong tự nhiên, virus còn tồn tại trong nhiều loại cây ký chủ như cỏ và cây hoang dại… Một số virus có khả năng tồn tại hàng chục năm trong các mảnh vụn khô của cây bệnh, chính vì vậy nguồn bệnh trong tự nhiên rất lớn, nên khả năng lây lan phát dịch luôn thường trực.

Triệu chứng bệnh: Tùy loài virus, tùy thời tiết và giai đoạn cây bị nhiễm mà thời gian phát bệnh vào triệu chứng sẽ khác nhau. Thông thường, khi bị nhiễm virus thì cây bị lùn, ngọn chùn lại, dây không vươn tiếp được, lá có màu không đồng nhất (khảm), hoặc bị vàng, hay xanh đậm, có khi bị nhỏ lại…

Tác hại: Giai đoạn cây nhỏ, nếu cây bị nhiễm virus sớm sau mọc, thì cây phát bệnh rất sớm. Khi cây đã lớn bị nhiễm bệnh, cây phát bệnh muộn hơn (do có sức đề kháng), hoặc không phát bệnh khi cây đã già. Cây phát bệnh càng sớm thì tác hại càng lớn, thậm chí không cho thu hoạch.

Phòng trừ: Bệnh do virus gây ra nên hiện chưa có thuốc đặc trị. Tuy nhiên, chúng ta có thể quản lý bệnh một cách hữu hiệu bằng cách quản lý con đường lây lan. Để quản lý được bệnh, chúng ta phải áp dụng đồng thời nhiều biện pháp mới đạt kết quả mong muốn. Các biện pháp đó là:

– Vệ sinh tàn dư cây trồng vụ trước, nhất là những cây trồng là ký chủ của virus như cây họ bầu bí, khoai tây, cà chua, thuốc lá, đậu đỗ… Tránh trồng gần các ruộng có các cây trồng nêu trên và đang ở giai đoạn cây lớn đến sắp thu hoạch. Vệ sinh các loài cỏ và cây dại quanh bờ.

– Nên gieo trồng sớm.

– Sử dụng các giống kháng sâu chích hút và kháng virus.

– Nhổ và tiêu huỷ các cây bị bệnh, không vứt cây bệnh bừa bãi.

– Tránh bón thừa phân đạm, tăng cường các loại vi lượng bằng cách sử dụng phân bón vi lượng qua lá hoặc qua rễ.

– Theo dõi thật chặt chẽ mật độ các loại sâu chích hút để phòng kịp thời từ khi cây vừa mọc cho đến 25 – 30 ngày sau mọc (vì đây là giai đoạn quyết định tỷ lệ cây bị bệnh và mức độ bệnh nặng hay nhẹ).

Hiện nay loại thuốc phổ biến và có hiệu lực đối với các loại sâu chích hút là RẦY XANH 450ME (Đặc trị: Rầy xanh, rầy trắng, rầy nhớt, rầy nâu, bọ trĩ…) do Công ty TNHH Vật tư nông nghiệp Xuyên Á cung ứng trên thị trường.

(nguồn tham khảo: Báo NNVN)


PHÒNG TRỪ SÂU TƠ VÀ BỌ NHẢY HẠI RAU

Nên áp dụng tốt các biện pháp canh tác để phòng chống sâu hại. Đây là phương pháp tối ưu nhất hiện nay, nhất là đối với hai loài sâu hại nguy hiểm sâu tơ và bọ nhảy.

Kết quả hình ảnh cho sâu tơ

 

Hiện nay, các vùng trồng rau trên cả nước đang có nhiều diện tích bị sâu tơ và bọ nhảy (sọc cong) gây hại mạnh. Nông dân loay hoay trong việc phòng trừ bởi cả hai loài này đều kháng thuốc rất khó phòng trị. Trong khi đó đại bộ phận nông dân lạm dụng thuốc hóa học, càng tăng thêm tính kháng thuốc cho sâu hại.

Xin đưa ra một số phương pháp để phòng trị hiệu quả:

+ Phòng sâu hại: Nên áp dụng tốt các biện pháp canh tác để phòng chống sâu hại. Đây là phương pháp tối ưu nhất hiện nay, nhất là đối với hai loài sâu hại nguy hiểm sâu tơ và bọ nhảy.

– Bố trí thời vụ để trồng cải sớm, không nên trồng muộn để hạn chế sâu tơ gây hại.

– Nên trồng xen rau, bắp cải với cà chua theo tỷ lệ cứ 2 luống rau, bắp cải thì xen 1 luống cà chua rất có ý nghĩa để trừ sâu tơ. Thực tế cho thấy mô hình trồng xen canh cà chua và rau, bắp cải như vậy thì mật độ sâu tơ trên ruộng trồng xen chỉ bằng 1 nửa so với trồng thuần.

– Trồng cây bẫy để thu hút sâu tơ: Có thể dùng cây cải mù tạt làm cây bẫy. Khi sâu tơ tập trung trên cải mù tạt thì tiêu diệt bằng cách phun thuốc hoặc nhổ bỏ và tiêu hủy cây cải mù tạt.

– Nên trồng xen hành hoa vào mé luống rau cải cũng sẽ hạn chế được lượng bọ nhảy gây hại rau.

– Tưới nước hợp lý: Nên tưới theo kiểu phun mưa vào khoảng thời điểm chiều tối để cản trở trưởng thành sâu tơ giao phối và đẻ trứng.

– Giảm độ ẩm trên các luống rau cũng sẽ hạn chế được sự phát sinh và gây hại của bọ nhảy sọc cong.

– Bón phân cân đối giữa đạm và kali cần bổ sung các dinh dưỡng trung vi lượng để rau cải phát triển thuận lợi.

– Luân canh rau cải với các cây tròng khác họ (dưa, bầu, bí ớt, hành hoa…) để cắt đứt vòng chu chuyển của bọ nhảy và làm cho hệ sinh thái đồng ruộng được đa dạng hóa.

+ Trừ bọ nhảy và sâu tơ hiệu quả: Biện pháp trừ bằng thuốc hóa học vẫn được chú trọng và các kĩ thuật cần lưu ý bao gồm: – Dùng bẫy Pheromone có hiệu quả diệt sâu tơ trưởng thành.

– Lựa chọn các loại thuốc để điệt được cả hai loài sâu cùng lúc mà không phải cộng gộp nhiều loại (cần lưu ý về thời gian cách ly của mỗi loại thuốc để sao cho khi thu hoạch rau được an toàn).

– Cần áp dụng tốt các kĩ thuật khi phun thuốc để trừ sâu đạt hiệu quả cao như: Đi theo đường vòng xuyến khi phi phun để dồn bọ nhảy vào giữa ruộng, phun đẫm cả xuống đất để diệt sâu non, dùng bình phun có tia thuốc nhỏ, mịn (phun sương) và hướng vòi phun ngửa từ mặt dưới lá lên trên để diệt sâu tơ, nên chọn thời điểm trời về tối (bọ nhảy không bay nhảy) để phun sẽ tốt hơn những thời điểm khác, khi thu rau cần để lại một đám giữa ruộng để bọ nhảy tập trung rồi phun trừ thuốc…

– Luân chuyển thuốc giữa các lần phun để không tăng thêm tính kháng thuốc cho sâu.

– Chỉ sử dụng thuốc hóa học có liều độc cao (vạch màu vàng dưới đáy nhãn) khi mật độ sâu ở mức cao. Mật độ sâu ít hoặc sắp đến lúc thu hoạch nên ưu tiên sử dụng các loại thuốc sinh học có nguồn gốc BT.


BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC RAU MÀU CHẾT RŨ

Hiện tượng rau màu chết rũ, nhất là các cây họ cà, họ bầu bí tại các vùng chuyên canh xảy ra rất phổ biến. Nguyên nhân do hệ rễ cây bị các vi sinh vật gây hại (nấm, vi khuẩn, tuyến trùng).

Khắc phục rau màu chết rũ

Vi khuẩn héo xanh và nấm gây chết rũ trong đất trồng nhiều vùng chuyên canh tồn tại với số lượng rất lớn. Kết quả là do hệ sinh thái đất trồng bị phá vỡ (vi sinh vật có ích bị tiêu diệt) bởi nông dân lạm dụng phân bón hóa học và thoát ly phân hữu cơ.

Mặt khác, việc sử dụng thuốc BVTV với số lượng lớn, các loại hóa chất trong sinh hoạt, khu công nghiệp thải ra môi trường đất, nước… khiến cho PH đất ở dạng axit (đất chua) là lý do để vi khuẩn, nấm, tuyến trùng có hại trong đất phát sinh, phát triển mạnh và gây hại bộ rễ cây trồng. Nông dân không thể cứ tìm loại thuốc đặc trị nào để tưới gốc cho cây khỏi bệnh. Biết được nguyên nhân sâu xa trên thì người trồng rau màu cần phải có biện pháp dần khắc phục cho đất để hệ sinh thái đất trồng được cân bằng.

Các biện pháp đó là:

+ Tăng cường nguồn phân chuồng hoặc hữu cơ vi sinh thay thế cung cấp cho cây trồng, hạn chế bón phân hóa học và tuyệt đối không nên lạm dụng phân hóa học để khai thác cây trồng quá mức.

+ Bổ sung thường xuyên nguồn vi sinh vật có ích (nấm đối kháng, nấm cộng sinh – Sp: Trichoderma XA) qua các vụ để hạn chế vi sinh vật có hại phát triển đồng thời giúp cây phát triển hệ rễ tốt hơn đồng nghĩa rằng cây trồng sinh trưởng, phát triển thuận lợi hơn.

+ Tận dụng nguồn tàn dư cây trồng (lúa, rau màu) tiến hành ủ mục làm nguồn hữu cơ cho đất để tăng độ tơi xốp, giàu mùn, thoáng khí…

+ Nếu có điều kiện thì nên chuyển đổi 1 vụ lúa/năm thay vì phát triển rau màu quanh năm để hạn chế lượng vi khuẩn héo xanh trong đất.

+ Khi sử dụng phân hóa học cho rau màu cần ưu tiên loại phân tổng hợp NPK+TE thay vì sử dụng phân đơn phối trộn. Tuyệt đối không bón đạm riêng lẻ cho cây trồng.

+ Chế độ nước tưới cần điều chỉnh sao cho phù hợp đối với từng loại cây, từng thời kỳ. Không nên để tình trạng quá thiếu hay thừa nước trong ruộng. Độ ẩm đất trồng cần duy trì 75 – 80%


slider_2

MỘT SỐ BỆNH HẠI QUAN TRỌNG TRÊN CÂY ỚT

Dưới đây là một số bệnh hại trên cây ớt và biện pháp phòng trừ

Kết quả hình ảnh cho bệnh thán thư trên ớt

  1. Héo rũ gốc mốc trắng

– Tác nhân gây bệnh: Do nấm Sclerotium rolfsii.

– Triệu chứng bệnh: Triệu chứng điển hình của bệnh được thể hiện rõ nhất từ khi cây ra hoa – hình thành quả – thu hoạch. Nấm xâm nhiễm vào phần thân cây sát mặt đất, vết bệnh lúc đầu nhỏ màu nâu tươi hơi lõm, về sau vết bệnh lan rộng có thể dài tới vài centimet bao quanh thân, gốc, lan rộng xuống tận cổ rễ dưới mặt đất. Mô vết bệnh dần dần bị phân hủy, các lá dưới gốc héo vàng và rụng trước, sau đó lan lên các lá phía trên, cuối cùng dẫn tới các lá héo rũ, cây khô toàn thân. Khi cây mới nhiễm bệnh thì rễ cây vẫn bình thường, sau đó rễ dần dần hóa nâu, thâm nâu và thối mục. Trong điều kiện nhiệt độ tương đối cao, ẩm độ cao thì trên bề mặt vết bệnh sát mặt đất sẽ xuất hiện lớp nấm màu trắng phát triển mạnh, sợi nấm mọc đâm tia lan dần ra mặt đất chung quanh gốc cây, tạo thành một đốm tản nấm màu trắng xốp, một vài ngày sau trên tản nấm đó sẽ hình thành nhiều hạch nấm. Khi còn non hạch có màu trắng sau chuyển dần sang màu nâu giống hạt cải. Bệnh xuất hiện có thể rải rác hoặc từng vạt trên ruộng tùy theo điều kiện ngoại cảnh đất đai và quá trình chăm sóc.

–  Đặc điểm phát sinh gây hại của bệnh

Đây là loại nấm đa thực gây hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau, phát sinh phát triển thuận lợi trong điều kiện nhiệt độ cao, ẩm độ cao nhưng thích hợp nhất là nhiệt độ 25-30oc. Hạch nấm có thể tồn tại 5 năm trong đất khô nhưng chỉ tồn tại 2 năm trên đất ẩm. Sợi nấm chỉ sống được vài tuần và chết khi nguồn dinh dưỡng được sử dụng hết. Nấm gây bệnh được bảo tồn trong đất và các tàn dư  cây trồng bằng hạch nấm hoặc sợi nấm, có khả năng sinh sống và nảy mầm ở độ sâu khoảng 5-8cm, nếu bị vùi lấp sâu hơn sẽ không có khả năng nảy mầm. Nấm không thể tồn tại trên đất bỏ hoang khoảng 2 năm. Sự có mặt của tàn dư cây trồng chưa bị phân hủy trên ruộng tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và xâm nhiễm của nấm bệnh. Bệnh thường phát sinh nặng hơn khi lượng lá rụng trên ruộng tích tụ quá nhiều chung quanh gốc.

  1. Héo rũ thối đen

Do nấm Phytophthora capsici.   Bệnh gây hại trên cây ớt trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển. Tùy từng giai đoạn và điều kiện ngoại cảnh khác nhau mà mức độ gây hại của bệnh cũng khác nhau. Ở thời kỳ cây con, vết bệnh lúc đầu là là một chấm nhỏ màu nâu hoặc màu đen  ở  rễ gốc thân. Sau đó vết bệnh lan lên phía trên làm hại thân lá và lan xuống phía dưới gây hại rễ chính, gây thối rễ, cây chết gục. Khi gặp trời mưa độ ẩm cao toàn cây bị thối nhũn ra, bề mặt mô bệnh thường có một lớp nấm màu trắng.Trời hanh khô cây bệnh nâu đen héo và chết. Khi cây lớn, trên gốc thân có vết màu đen kéo dài về phía trên và dưới. Khi chẻ phần thân thấy lõi có màu nâu đến nâu đen, nhưng đặc điểm này không có ở những vị trí cao hơn.

– Đặc điểm phát sinh gây hại của nấm

Nấm phát sinh gây hại trong phổ nhiệt độ rộng 12-300c. Bệnh phát triển gây hại mạnh khi thời tiết nóng ẩm và đất ướt, lượng mưa lớn hay tưới nước quá mức, nhất là khi trên ruộng đã có cây bị bệnh thì đây là điều kiện để bệnh lây lan ra cả ruộng, vì du động bào tử của nấm gây bệnh có thể bơi được trong nước.

  1. Bệnh héo xanh vi khuẩn

Bệnh do vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây ra. Bệnh héo xanh thường thể hiện triệu chứng ngay sau khi vi khuẩn xâm nhập vào rễ hoặc phần thân sát mặt đất. Ở cây bị bệnh ban ngày lá cây mất màu nhẵn bóng, tái xanh héo cụp xuống, về ban đêm có thể hồi phục lại. Sau 2-3 ngày lá cây bị bệnh không thể hồi phục được nữa, các lá gốc tiếp tục héo rũ và toàn cây bị héo rũ rồi chết, cắt ngang thân thấy bó mạch dẫn hóa nâu hoặc nâu đen, nhúng đoạn thân vào cốc nước sạch sẽ thấy dịch vi khuẩn chảy ra màu trắng sữa (đây là đặc điểm để phân biệt bệnh do vi khuẩn và các đối tượng gây hại khác). Trong điều kiện ẩm độ cao, thân cây bệnh dần thối mềm, gãy gục.

– Điều kiện phát sinh phát men của bệnh:

Bệnh gây hại mạnh trong điều kiện nóng ẩm, nhất là khi gặp nắng mưa xen kẽ.
Nguồn bệnh vi khuẩn có thể sống trong đất 5-6 năm, còn trên cây ký chủ và trong hạt giống là 7 tháng.

Vi khuẩn chủ yếu tồn tại trong đất, tàn dư cây bệnh để trở thành nguồn bệnh cho vụ sau, năm sau.

Bón đạm quá nhiều, tưới nước quá ẩm, nhất là khi trên ruộng có cây bị bệnh sẽ thuận lợi cho bệnh lây lan và gây hại.

†  Biện pháp quản lý bệnh các loại bệnh trên

+ Dọn sạch tàn dư cây bệnh trên đồng ruộng.

+ Luân canh với cây không cùng ký chủ, tốt nhất là lúa nước.

+ Chọn hạt giống khỏe sạch bệnh để trồng, giống trên ruộng không bị bệnh.

+ Tránh gây tổn thương rễ trong quá rinh trồng trọt, chăm sóc.

+ Khi trồng cần lên luống cao sâu rộng để dễ thoát nước khi gặp mưa lớn.

+ Bón phân cân đối hợp lý tránh bón đạm quá nhiều.

+ Thường xuyên kiểm tra phát hiện cây bị héo rũ để nhổ bỏ kịp thời, phải hạn chế tưới nước, tránh bệnh lây lan trên ruộng.

+ Sử dụng giống chống chịu bệnh, giống ít bị bệnh.

+ Đối với bệnh do nấm Sclerotium rolfsii có thể cày sâu 10-13 cm  để vùi lấp hạch nấm và dùng một số loại nấm đối kháng như: Trichoderm, Gliocladium…

+ Biện pháp hóa học thường hiệu quả thấp do tác nhân gây bệnh tồn tại chủ yếu trong đất, xâm nhiễm gây hại ở bộ phận rễ, cổ rễ thân sát mặt đất. Tuy nhiên, trong những trường hợp thực sự cần thiết có thể dùng  một số loại  thuốc  phun để tăng cường sức đề kháng cho cây và hạn chế bệnh lây lan như: Rovral, Viroval, Hạt vàng,  Carbendazim, Benlat… (dùng đối với bệnh do nấm Sclerotium rolfsii); Aliette, Ridomil, Phosacide… (dùng đối với bệnh do nấm Phytophthora capsici); Streptomycine 50-200ppm, Kasamin, Starner… (dùng đối với bệnh  do vi khuẩn).

  1. Khi cây ớt bị chết nhanh

Bà con nông dân ở vùng rẫy Long Hồ và Bình Minh có nhiều kinh nghiệm trong phòng trị các bệnh cho cây ớt- cây có giá trị kinh tế cao trong mùa mưa lũ như hiện nay. Trong mùa này, thủy cấp trong nhiều vùng ở đồng bằng dâng cao do đang vào mùa lũ và ẩm độ trong không khí cũng cao (mưa nhiều xen kẽ với nắng), nên không thích hợp với sự phát triển của cây ớt, vì là loại cây thích đất xốp thông thoáng. Bệnh gây thiệt hại lớn thường gặp trong lúc này của cây ớt là bệnh héo rũ khiến cây chết rất nhanh.

Theo bà con, bệnh do nấm gây ra (nấm Pythium sp. Và Fusarium sp.).Mầm bệnh thường lưu tồn trong đất, bã thực vật, nhất là các loại cây có mang bệnh này ở vụ trước. Rẫy ớt bị bệnh này thường là các rẫy thoát nước không tốt và việc luân canh cây trồng không hợp lý, nhất là vụ trước cũng trồng ớt. Trong rẫy ớt bị bệnh, rải rác có những cây có hiện tượng sáng và chiều lá vẫn tươi, nhưng trưa lại héo. Sau đó vài ngày, các cây ớt này nhanh chóng héo hoàn toàn, lá rụng và trái ớt bị giảm kích thước đáng kể. Nhổ cây ớt lên sẽ thấy rễ bị thối và có màu nâu.

Khi phát hiện trong rẫy ớt có hiện thượng này, phải lập tức nhổ bỏ các cây bệnh và tiêu hủy ngay để diệt mầm bệnh, tránh lây lan qua cây khác và cả các loại cây của vụ rẫy sau. Phòng và trị bệnh cho cây ớt lúc này bằng cách phun cho cây các loại phân bón lá giàu Can-xi như Caltrac, BoroCa, Hợp trí CaSi,… và phun các loại thuốc có gốc Fosetyl Alumium, Metalaxyl theo nồng độ khuyến cáo trên bao bì, kết hợp việc khai nước ra cho ruộng thông thoáng. Trong bón phân, chú ý dùng phân cân đối, nên tăng cường phân hữu cơ, phân hữu cơ sinh học như Super Humic… Sẽ hiệu quả hơn nếu kết hợp với sử dụng các sản phẩm có chứa nấm đối kháng Trichoderma, nhằm tiêu diệt mầm bệnh trên rẫy. Tuy nhiên, biện pháp hóa học không mang lại hiệu quả hữu hiệu nhất, mà phải dùng biện pháp tổng hợp nói trên, chú ý tuyệt đối không dùng hạt giống có mầm bệnh (lấy ở rẫy có cây bị bệnh) và xử lý đất trước khi xuống giống bằng các loại thuốc gốc đồng có bán nhiều trên thị trường.

  1. Bệnh thối xám hại ớt

Trong vụ đông, khi nhiệt độ xuống thấp, kèm theo những đợt mưa phùn kéo dài, tạo nên độ ẩm cao là điều kiện thích hợp cho các loại nấm bệnh phát sinh và phát triển, làm cho cây trồng dễ mắc một số bệnh. Gần đây, qua theo dõi, chúng tôi nhận thấy cây ớt ở một số vùng thuộc các địa phương như Hà Tây, Hải Phòng, Hải Dương đã bắt đầu bị nhiễm bệnh do một loại nấm mốc màu xám gây ra. Bệnh phát triển khá nhanh, ở vùng bãi ven sông có xu hướng nặng hơn ở nội đồng. Đó là bệnh thối xám (gray mold hay botrytis cinerea). Nếu không kịp thời phòng trừ, trong thời gian tới khi có những giai đoạn mưa phùn kéo dài, bệnh sẽ có nguy cơ phát triển trên diện rộng.

Triệu chứng:

Có thể tìm thấy các triệu chứng bệnh xuất hiện trên hoa, quả (trái) non, thân và lá ớt, kể cả ở phần cuống quả và đoạn cuống còn sót lại sau thu hoạch. Ngay từ đầu, những cánh hoa nhiễm bệnh sẽ chuyển màu xám và thối. Sau đó những quả ớt non trong diện tiếp xúc với những cánh hoa này sẽ có màu nâu đậm và bắt đầu mềm rũ. Quả non mang bệnh có nhiều khả năng bị rụng sớm. Trong khi đó, những quả ớt lớn hơn cũng có thể bị bệnh thông qua phần cuống của vòi nhụỵ. Quả bị nấm bệnh một thời gian sẽ bị mềm nhũn ra, biến màu nâu và thối. Vết bệnh trên thân cây thường phát sinh từ phần cuống quả của già còn sót lại sau thu hoạch hay do những cánh hoa bị bệnh bay trong gió và rơi xuống. Nấm mốc màu xám xuất hiện trên hầu hết các vết bệnh, nhưng các vết trên thân và lá không có nhiều nấm này như ở cánh hoa và quả non.

Nguyên nhân và điều kiện phát bệnh:

Nguồn gây bệnh ban đầu là các sợi nấm bay tới từ các ruộng bị bệnh ở kế bên, nhất là đầu hướng gió thổi tới, hay của các vụ trước còn sót lại trong đất. Khi gặp điều kiện thuận lợi như đã nhắc tới ở trên, chúng hình thành các bào tử đính (conidia) và bắt đầu phát tán, đồng thời tạo ra các vết bệnh mới. Nhiệt độ thích hợp nhất cho bệnh bùng phát là vào khoảng 14-200C. Bệnh không chỉ gây hại cho cây trồng ngoài ruộng mà còn có thể tấn công cả cây trong nhà lưới hoặc nhà kính của các trung tâm rau sạch.

Phòng trừ:

Khi trồng cần làm đất sạch, tơi xốp, khô thoáng và chọn trồng những cây non khỏe mạnh, không mang bệnh. Trồng ớt với mật độ vừa phải, không nên quá dày. Khi cần tưới nước, chỉ tưới vào gốc, tránh tưới trên tán lá ớt để hạn chế độ ẩm cao. Nếu phun bổ sung phân bón lá thì nên phun vào buổi sáng của ngày nắng ấm để nước dễ bay hơi. Khi nhiệt độ không khí xuống thấp và độ ẩm cao cần lưu ý phun thuốc phòng bệnh. Tốt nhất, nên phun thuốc phòng tối thiểu một lần trước khi bệnh xuất hiện, điều này rất đáng lưu ý trong phòng trừ bệnh nói chung. Sau đó có thể phun từng đợt, cách nhau 7 đến 14 ngày, tùy theo điều kiện thời tiết và mật độ vết bệnh phát hiện trên ruộng. Khi cây đã bị bệnh, cần xử lý bằng thuốc trừ bệnh. (Báo NNVN đã có dịp giới thiệu về thuốc phòng và trừ bệnh hại cây trồng trên số 1607 ngày 1/4/2003). Nên sớm loại bỏ các lá, quả và thân cây bị nhiễm bệnh vì chúng chính là nguồn gây bệnh cho các cây khoẻ mạnh khác. Có thể kể ra một vài tên hoạt chất (active ingredient) của các thuốc hóa học thường dùng phòng trừ bệnh này như: Folpet, Metalaxyl, Daconil, Benomyl v.v.

  1. Bệnh thán thư ớt (còn gọi là bệnh đốm trái – nổ trái)

    Kết quả hình ảnh cho bệnh thán thư trên ớt

TRIỆU CHỨNG BỆNH

Vết bệnh lúc đầu là một đốm nhỏ hơi lõm, trên bề mặt vỏ quả. Vết bệnh, thường có hình bầu dục hoặc hình thoi, mầu nâu đen hoặc màu vàng trắng bẩn, kích thước vết bệnh có thể trên dưới 1cm tuỳ thuộc vào giống ớt. Phần ranh giới giữa mô bệnh và mô khoẻ thường có một đường vạch màu đen chạy dọc theo vết bệnh. Trên bề mặt mô bệnh có những chấm nhỏ màu đen đó là đĩa cành của nấm gây bệnh.

Bệnh thán thư làm thối chồi non, chết cây con vườn ươm, đặt biệt làm thối quả, cây bệnh ít quả, kém năng suất và giá trị kinh tế, xuất khẩu. Đặc biệt bệnh thán thư hại ớt cả trong thời kỳ bảo quản sau thu hoạch làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng hạt giống.

TÁC NHÂN GÂY BỆNH

Nguyên nhân gây bệnh thán thư do nhiều loài nấm thuộc loại Colletotrichum gây ra, trong đó hại phổ biến là 2 loài Colletotrichum nigrum Ell et Hals và C. capsici (Syd) Butler and Bisby. Cả 2 loài nấm này thường cùng phá hại làm thối quả ớt rất nhanh. Về đặc điểm hình thái và sinh học của 2 loài nấm trên có những khác biệt, song về điều kiện sinh thái, chúng đều sinh trưởng phát triển thích hợp ở nhiệt độ 28 – 30oC và ẩm độ cao. Đặc biệt bào tử nấm thán thư có sức sống cao, có khả năng chịu đựng khô hạn, dễ dàng phát tán nhờ gió và côn trùng. Nấm gây bệnh tồn tại chủ yếu ở dạng sợi nấm và bào tử phân sinh trên tàn dư lá, thân cành, quả và hạt ớt bị nhiễm bệnh. Vì vậy tàn dư cây ớt bị nhiễm bệnh và hạt giống cũng là những con đường truyền lan bệnh chủ yếu trong tự nhiên.

Nếu vết bệnh có màu trắng trắng xám, bên trong có nhiều vòng đồng tâm nhô lên và có màu vàng nhạt, trên đó có những chấm nhỏ li ti màu vàng do nấm Colletotrichum spp. gây ra (Colletotrichum gloeosprioides; C. capsici; C. acutatum; C. coccodes).

Nếu vết bệnh có màu đen không có nhiều vòng đồng tâm, trong vết bệnh có nhiều chấm nhỏ li ti màu đen, và chỉ gây hại trên trái chín mà thôi, do nấm Volutella sp. gây ra.

BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

– Xử lý hạt giống bằng KMnO4 (0,1%) trong 1 giờ hoặc xử lý nước nóng 52oC trong 2 giờ.
– Gieo trồng ớt ở mật độ thích hợp.

– Nấm tồn tại trong tàn dư thực vật, thu hái các trái bệnh đem thu huỷ.

– Luân canh, không trồng cây họ cà ớt trong vòng 2 – 3 năm.

– Chọn giống kháng bệnh, tăng cường bón thêm phân chuồng hoai mục cho ruộng ớt.

– Tránh trồng ớt trong mùa mưa. Nếu ớt gặp mùa mưa, xem cách chăm sóc và phòng trừ bệnh thán thư trên ớt trong mùa mưa.

– Phun thuốc Copper B 75 WP, Score 250 EC, Appencarb, FOLPAN 50SC, … nồng độ 0,2 – 0,5% khi bệnh gây hại.

– Bón cân đối NPK, đặc biệt để bổ sung đầy đủ nguyên tố vi lượng cho cây ớt có thể sử dụng chế phẩm Bayfolan khoáng chất 11 – 8 – 6 của Công ty Bayer với liều lượng 50ml/bình 16l. Chế phẩm Bayfolan dễ hấp thụ qua lá, thân, rễ cây, giúp cây ớt tăng sức đề kháng, tăng khả năng đậu quả, không rụng hoa và quả.

Trên cây ớt thường bị phá hại bởi các loại côn trùng, sâu ăn lá, sâu đục quả ớt, tạo các vết thương cơ giới rất thuận lợi cho nấm gây bệnh thán thư xâm nhập phá hại. Vì vậy có thể dùng thuốc Bulldock 025EC liều lượng 0,5 – 1lít/ha diệt sâu hại.

Để phòng trừ nấm gây bệnh thán thư ớt, cần sử dụng kịp thời một số thuốc trừ bệnh chủ yếu sau: Thuốc Antracol 70WP (liều lượng 2kg/ha) phun trực tiếp lên lá, cây hoặc quả khi bệnh mới xuất hiện. Thuốc Antracol 70WP ngoài tác dụng phòng trừ trực tiếp nấm gây bệnh thán thư còn có tác dụng bổ sung nguyên tố vi lượng kẽm (Zn++) tinh khiết cho cây ớt, làm tăng sức đề kháng, xanh và cứng cây, chống rụng hoa và quả, đồng thời làm quả ớt có màu sáng đẹp. Nhờ có vi lượng kẽm, thuốc Antracol 70WP còn phòng trừ rất tốt bệnh vàng lá.

Có thể phun luân phiên thuốc Antracol 70WP (1.5 – 2 kg/ha) với thuốc Nativo 750WG (liều lượng 0,12kg/ha), nhờ tác động kép giữa 2 hợp chất trừ bệnh của thuốc Nativo 750WG giúp cây ớt phòng trừ được tất cả các bệnh nấm hại cây và quả ớt kéo dài.

Ngoài 2 loại thuốc trên, người sản xuất cũng có thể dùng luân phiên với thuốc Melody DUO 66,75WP với liều lượng theo khuyến cáo (1kg/ha).

7. Bệnh chết cây con:

+ Nguyên nhân: Bệnh do nhiều loại nấm sinh sống và gây hại trong đất như Rhizoctonia solani, Pythium, Fusarium, Phytophthora spp. + Triệu chứng: Bệnh xảy ra trong giai đoạn cây con, triệu chứng dễ nhận diện do phần thân cây tiếp giáp với mặt đất bị thối khô có màu nâu đen, cây bị bệnh không đứng thẳng mà ngả sang một bên, lá rũ, còi cọc và chết. Bệnh chết cây con thường thấy khi ẩm độ và nhiệt độ cao. Bệnh thường xuất hiện khi gieo quá dày, tưới nước quá nhiều nhất là khi gieo hạt mùa mưa mà không có giàn che.

+ Phòng trừ: – Không lập vườn nơi quá ẩm ướt không thoát nước tốt hay vườn tối, không đủ ánh sáng, nên làm giàn có mái che.

– Đất vườn ươm phải xử lý trước khi gieo như xử lý vôi, đốt rơm rạ, phơi nắng trước khi trồng…

– Nên bón phân hữu cơ đã hoai mục, hạn chế bón nhiều phân hóa học nhất là đạm.

– Luân canh với các cây trồng khác họ cà (cà, ớt, khoai tây…) để diệt nguồn bệnh.

– Xử lý hạt giống trước khi gieo: Trộn 10 gr thuốc Carbenzim 50WP trong 1 kg hạt giống hay ngâm hạt vào dung dịch nước thuốc với nồng độ 0,1% (pha 1 gr thuốc/1 lít nước) trong 1 – 2 giờ

– Phun thuốc hoá học: Khi thấy cây chớm bệnh phải phun thuốc trừ bệnh ngay, có thể sử dụng các loại thuốc sau: Carbendazim 500 FL, Mexyl MZ 72WP, Alpine 80WP. Nếu cây nhiễm bệnh nặng 5 – 7 ngày phun một lần

                                                                                                                                                                                             KS: Nguyễn Tiến Lâm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Lương Minh Tâm, 21/8/2006 – Báo Quảng Nam

HỒNG VÂN (TP Vĩnh Long) – Báo Vĩnh Long, 07/12/2010

NNVN, 9/12/2003

NNVN, 23/10/2015

 

 

 

 


NHỆN HẠI CÂY CÓ MÚI

Nhện là loài sinh vật gây hại phổ biến trên cây có múi, đặc biệt trong điều kiện khí hậu nóng và khô là thích hợp cho nhện phát triển và gây hại mạnh.

Nhện hại cây có múi

Nhóm nhện gây hại thường có kích thước rất nhỏ, không giống với các loài nhện thiên địch.

Nhện có vòng đời rất ngắn, khả năng sinh sản cao, tạo nhiều thế hệ trong một năm, vì thế dễ bộc phát thành dịch trong một thời gian ngắn. Trên cây có múi phổ biến có 3 loài nhện.

1. NHỆN ĐỎ (Panonychus citri)

Loài này gây hại trên lá và quả là một trong những dịch hại quan trọng trên họ cam quýt và các loại cây trồng khác. Chúng phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết khô.

Nhện chích hút trên lá và trái để lại triệu chứng giống như bị cào, trên vỏ quả phủ một lớp màu vàng xạm, trên mặt lá xuất hiện các điểm sáng.

2. NHỆN VÀNG (Phyllocoptruta oleivora)

Nhện vàng tập trung nhiều trên  phần vỏ trái hướng ra phía ngoài tán lá, chúng tấn công quả làm quả bị méo mó, nhỏ, tạo những vết nâu hơi xám, những quả bị hại do nhện giảm nước nhanh hơn quả không bị hại và hư hỏng một cách nhanh chóng.

3. NHỆN TRẮNG (Polyphagotarsonemus latus)

Thường tạo vết rám, xạm trên chanh, làm giảm giá trị thương phẩm. Chúng có mức độ gây hại phổ rộng trên các nhóm lá rộng, cây cảnh và cỏ. ẩm độ mùa hè là điều kiện thuận lợi cho chúng phát triển.

Vụ chanh nghịch, hay vụ cam xuân hè thường bị ảnh hưởng nặng. Vết hại có màu vàng bạc hay chì màu da xạm giống như màu da cá mập và lan rộng ra khắp bề mặt quả, thỉnh thoảng vết xạm giống như màu đồng thiếc, quả thấp trên cây thường bị hại nặng đầu tiên.

Nhện trắng gây hại trên lá non của cam quýt, thường giai đoạn vườn ươm của cây bị thiệt hại nặng và có thể tìm thấy chúng ở dưới mặt lá, chúng làm lá rậm rạp và méo mó, mép lá bị cong xuống và thường biểu hiện màu đồng thiếc ở mặt dưới lá. Thân non sinh trưởng còi cọc, cây trồng giống như ảnh hưởng của thuốc cỏ.

Biện pháp phòng trừ:

Khảo sát vườn liên tục, đặc biệt chú ý vào mùa khô bằng các dụng cụ như kính lúp, giấy trắng… và nhận diện các triệu chứng gây hại để phòng trừ đúng lúc.

Thu gom các trái bị hại rơi rụng, tạo thành vườn thông thoáng cũng làm giảm mật số gây hại.  Tưới phun nước đủ ẩm thường xuyên cũng làm giảm nhện gây hại, nên tưới từ dưới lên trên bề mặt.

Dùng thuốc bảo vệ thực vật: Do nhện có khả năng kháng thuốc rất cao nên phải thường xuyên thay đổi luân phiên các loại thuốc sau: CALICYDAN(USA) 200EC, Saromite 57EC, Comda Gold 5WG, Dầu khoáng SK EnSpray 99EC, Sulox 80WP… xịt vào chỗ nhện thường ẩn nấp (mặt dưới lá và trên trái).

Nếu vườn bị hại nặng thì cứ mỗi đợt ra lộc non xịt thuốc 3 lần: lần 1 khi vừa nhú đọt, lần 2 khi đọt ra rộ và lần 3 khi lá bánh tẻ.  Khi cây cho trái cũng nên xịt thuốc 3 lần: lần 1 lúc nụ hoa ra rộ, lần 2 sau khi tượng trái rộ khoảng 1 tuần và lần 3 cách lần 2 khoảng 10 ngày.


Phòng trị sùng đục cành xoài

Sùng gây hại chính trên cành, làm cành khô, chết, ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và hại nặng đến năng suất

Phòng trị sùng đục cành xoài

Sùng đục cành xoài. Tên khoa học chưa định danh. Đây là loài côn trùng mới xuất hiện vài năm gần đây ở các tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ. Sùng gây hại chính trên cành, làm cành khô, chết, ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và hại nặng đến năng suất. Cùng lúc, trên một cây có thể có nhiều cành bị sùng gây hại và trên cùng một cành có thể cùng lúc bị có nhiều sùng tấn công.

Quan sát bên ngoài vết đục thấy có mạt gỗ đùn ra ngoài và gây chảy nhựa, bên trong cành, sùng đục thành đường hầm dài làm cành bị khô, chết, gãy ngang ngay lỗ đục.

Ở Đông Nam bộ và ĐBSCL, sùng thường gây hại từ tháng 9 – 11 đến tháng 2 – 3 năm sau, tức trùng hợp vào giai đoạn xoài đang chuẩn bị ra hoa đến thu hoạch.

Đặc tính sinh học: Sùng có màu trắng sữa, thân hình thon dài, đầu đen, hàm khỏe, khi lớn có màu nâu đậm. Thành trùng là một loại xén tóc, dài khoảng 3mm, râu đen, dài khoảng 2mm. Sùng hoá nhộng ngay trong thân cây. Nhộng trần.

Phòng trị: Không trồng dày. Thăm vườn thường xuyên để phát hiện và phòng trị kịp thời. Nếu phát hiện sớm, bỏ thuốc hạt Diaphos 10H hay bơm AKULAGOLD 260EW vào vết đục đục rồi dùng đất sét trét lại, nếu phát hiện muộn, tỉa bỏ cành và mang đi tiêu hủy.

 


‘Siêu lợi nhuận’ khiến thuốc nguyên liệu BVTV nhập khẩu vẫn như… vũ bão!

Nhiều năm qua, nông dân luôn được khuyến cáo hạn chế thấp nhất việc sử dụng thuốc BVTV  trên đồng ruộng thông qua các chương trình IPM, “3 giảm 3 tăng”, “1 phải 5 giảm”. Thế nhưng, tình hình nhập khẩu thuốc nguyên liệu của các DN đến nay lại như… vũ bão!

Siêu lợi nhuận khiến thuốc nguyên liệu BVTV nhập khẩu vẫn như... vũ bão

Cơ quan chuyên môn khuyến cáo nông dân hạn chế sử dụng thuốc BVTV trên đồng ruộng, nhưng thuốc trên đồng ruộng vẫn nhiều.

“Ma trận” thuốc nguyên liệu

Hiện nay, Việt Nam không sản xuất được thuốc nguyên liệu bảo vệ thực vật hay còn gọi là hoạt chất (ký hiệu a.i hoặc a.e) để gia công, phối trộn thành thuốc thành phẩm, hàng năm phải nhập khẩu với chi phí hàng trăm triệu USD.

Không hiểu có phải vì khâu quản lý thuốc nguyên liệu (còn gọi là thuốc kỹ thuật) “đầu vào” đang có vấn đề hay không mà trên thị trường luôn ở trong tình trạng nóng về “đầu ra” như thuốc giả, thuốc kém chất lượng… Vừa qua, đã xảy ra tình trạng thuốc sâu có nhãn hiệu của một số doanh nghiệp (DN) phun sâu không chết, bẫy chuột ăn mà cứ sống nhăn răng. Tại sao như vậy?

Theo danh mục thuốc BVTV năm 2015 (năm 2016 chưa ban hành – PV), Việt Nam đang có khoảng 1.700 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất khác nhau để sản xuất thuốc BVTV thành phẩm với 4.000 dòng sản phẩm của gần 200 DN lớn nhỏ, trong đó có 5 DN nước ngoài, 4 DNNN, 14 Cty cổ phần, còn lại là Cty TNHH, DN tư nhân.

Tuy nhiên, theo tìm hiểu chúng tôi, trên thị trường thật ra chỉ còn lại khoảng 2.000 sản phẩm (trong đó khoảng 20% là thuốc sinh học, thảo mộc), còn các loại sản phẩm thuốc tuy có tên trong danh mục nhưng đã biến mất hoặc có rất ít trên thị trường do sau khi đăng ký danh mục đưa vào thị trường bị nông dân chê nên “sớm nở tối tàn”.

Theo ước tính, hàng năm các DN nhập khẩu (NK) đến 300 loại thuốc nguyên liệu (hàm lượng 95% hoạt chất hay chất hoạt động, 5% tạp chất), bao gồm thuốc sâu, thuốc bệnh và thuốc trừ cỏ để gia công, sang chiết, đóng gói cho hàng ngàn sản phẩm thuốc BVTV, trong đó thị trường Trung Quốc đứng đầu do ưu điểm dễ sử dụng, giá rẻ hơn so với nguyên liệu các nước khác, nhất là châu Âu.

Có 3 DN Trung Quốc xuất khẩu thuốc nguyên liệu sang Việt Nam nhiều nhất là Cty Vision Fluorochem (Nam Kinh); Cty Hóa Chất Zhejiang Province Changxing First (Chiết Giang) và Cty Shenzhen Sunrising Industry Co., LTD (Thượng Hải).

Sau Trung Quốc mới đến các nước Hàn Quốc, Ấn Độ, Singapore, Nhật Bản, Đức, Thụy Sĩ, Pháp, Thái Lan, Indonesia… Do mặt hàng thuốc nguyên liệu nhập khẩu áp thuế suất bằng 0 nên gần như không có hiện tượng nhập lậu qua đường tiểu ngạch, có chăng là nhập lậu thuốc thành phẩm của Trung Quốc qua đường biên giới Quảng Ninh và Lào Cai.

Kinh doanh mặt hàng thuốc BVTV có thể nói siêu lợi nhuận “một vốn bốn lời”. Chẳng hạn, NK 1 kg (lít) thuốc nguyên liệu giá từ 500 ngàn đồng đến 2 triệu đồng (đa số là của Trung Quốc) nhưng khi gia công thành phẩm dạng nhũ dầu (EC) có 10% hoạt chất thì được 10 lít 10EC, còn 20EC được 5 lít. Chỉ cần bán giá sỉ 300 ngàn đồng/lít đối với mặt hàng 10EC đã có 3 triệu đồng, trong khi giá NK thấp hơn nhiều.

13-48-31_h1

Thuốc nguyên liệu hoạt chất Tricyclazone trừ nấm bệnh dạng huyền phù (SC) hạt mịn  

Thế nhưng, việc NK thuốc nguyên liệu trong danh mục lại không bị giới hạn về số lượng nên các DN tùy vào thị trường tiêu thụ mà tha hồ nhập. Ngoài ra, còn phải kể đến một số Cty hóa chất khác NK về bán lại cho các DN “mi-ni” để gia công, sang chiết và đóng gói.

Thế nên, không có gì lạ khi mặt hàng thuốc nguyên liệu NK qua các năm không hề giảm, cả nước phải chi nửa tỷ đô-la mỗi năm, mặc dù các cơ quan chuyên môn luôn khuyến cáo cho nông dân hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc BVTV trên đồng ruộng nhằm tránh nguy cơ độc hại cho người và môi trường, thông qua các biện pháp IPM (phòng trừ dịch hại tổng hợp); “3 giảm 3 tăng” và “1 phải 5 giảm”.

Quản lý còn bất cập

Ngày 18/7, chúng tôi liên hệ với Cty Hóa chất G.P ở quận Tân Phú, TP.HCM, để mua thuốc nguyên liệu với các hoạt chất gồm: Nhóm thuốc sâu là Alphal cypermethrin, Cymermethrin, Abamectin, Emamectin Benzoate, Chlorpytifos, Fenobucard, Diazinon, Profenofos, Azadirachtin; nhóm thuốc bệnh là Carbendazim, Propiconazole, Dienocconnaole, Azoxystrobin, Tebuconazole, Mancozed, Hexaconazole, Tricyclazone với mục đích mang về gia công, đóng gói thành phẩm.

Sau khi hỏi chúng tôi ở Cty nào, trong vòng 30 phút, phía đại diện Cty G.P đã thông báo giá thấp nhất 500 ngàn đồng/kg, cao nhất là 2,2 triệu cho từng loại và nhấn mạnh chỉ bán hàng của Trung Quốc và Ấn Độ. Trong đó, nhóm hoạt chất thuốc trừ sâu phần lớn đắt tiền hơn so với nhóm thuốc bệnh.

Thông tư số 21/2015 ngày 8/6/2015 của Bộ NN-PTNT về “Quản lý thuốc BVTV” do không bắt buộc các DN phải NK đúng thuốc nguyên liệu như hồ sơ đăng ký nộp ban đầu, miễn là hàm lượng hoạt chất sau khi NK phù hợp với hoạt chất thể hiện trên hồ sơ.

13-48-31_h3

Kho thuốc BVTV thành phẩm của một DN lớn tại TP.HCM

Thế nên, hiện có rất nhiều DN khi làm hồ sơ NK thuốc nguyên liệu, dù phải mô tả nhà cung cấp (NCC) nước ngoài, nhưng sau khi đăng ký xong, DN mua NCC nào cũng được, miễn là hàm lượng hoạt chất phân tích có kết quả tương đương.

Điều này dẫn tới việc DN đăng ký một đằng, nhưng nhập một nẻo. Chẳng hạn, trên hồ sơ đăng ký NCC từ châu Âu như Pháp, Đức, Thụy Sĩ, nhưng thực chất “ruột” lại là của Trung Quốc, Ấn Độ do giá NK rẻ hơn khoảng 20%. Vì vậy, trên bao bì của DN “tự tin” ghi “Nguyên liệu nhập từ châu Âu” để đánh lừa bà con nông dân.

Mặt khác, nguyên liệu thông thường chỉ có 95% hàm lượng hoạt chất, còn lại 5% là tạp chất. Tạp chất này có gây hại cho người và môi trường hay không còn tùy thuộc vào NCC, tức quốc gia xuất khẩu nguyên liệu.

Sau khi NK thuốc nguyên liệu, các DN gia công ở 3 dạng chủ yếu là nhũ dầu (EC) ở thuốc sâu, thuốc cỏ; dạng huyền phù (SC) hạt mịn ở các loại thuốc bệnh và dạng rắn (WG) hạt cốm ở thuốc sâu, thuốc ốc. Trong đó, phổ biến trên thị trường nhất là dạng EC vì dễ làm, hai dạng còn lại do công nghệ phức tạp nên chỉ có ở các DN lớn “ôm”.

Điều đáng nói, tùy theo bí quyết, công nghệ gia công của từng DN mà chất lượng thuốc BVTV được giới trong ngành đánh giá theo 3 cấp độ “cao, vừa và thấp (kém)”. Nếu gặp cấp vừa, thấp của các DN “mi-ni” gia công thì phải phun 2-3 lần sâu mới chết, so với quảng cáo thì chỉ cần phun 1 lần là đủ.

Ngoài ra, sau khi đưa vào gia công thành phẩm bán ra nông dân, hàm lượng hoạt chất trong thuốc nguyên liệu chỉ còn 5%; 10%; 40%; 50%, còn lại là “chất độn” gồm tạp chất và phụ gia chiếm phần lớn. Trong khi chất lượng thuốc BVTV không chỉ phát huy hiệu quả ở hoạt chất mà còn phụ thuộc cả phụ gia, bởi nó làm tăng tính ổn định kết dính của thuốc. Thế nhưng, hiện chúng ta chỉ quản lý mỗi hoạt chất, còn các thành phần khác trong thuốc đang được thả lỏng, DN mua ở đâu, sử dụng thế nào chỉ có trời mới biết…

Theo Tổng cục Hải Quan, 3 năm gần đây Việt Nam đã chi hàng trăm triệu USD để nhập khẩu thuốc trừ sâu từ Trung Quốc, trong đó năm 2014 là 411 triệu, năm 2015 là 376 triệu USD và 5 tháng đầu năm 2016 là 127 triệu USD.

(nguồn: Báo Nông nghiệp)


sau-phao-1_ww200

SÂU PHAO ĐỤC BẸ HẠI LÚA

Sâu phao đục bẹ hay sâu đục bẹ được phát hiện đầu tiên trong vụ HT 1998 tại Sóc Trăng và Tiền Giang, năm 1999 tại huyện Càng Long (Trà Vinh) và Vũng Liêm (Vĩnh Long), năm 2000 tại huyện Cao Lãnh (Đồng Tháp), 2002 tại Bình Thuận, Ninh Thuận….

Như vậy trong một thời gian ngắn, sâu phao đã lây lan nhanh trên diện rộng, hình thành các ổ dịch lớn và nếu không phòng trị kịp thời sẽ gây hại nặng đến năng suất.

Triệu chứng gây hại

Gọi là sâu phao đục bẹ vì cách thức, thời điểm sinh sống giống như sâu phao nhưng cách gây hại lại giống như sâu đục thân. Sâu thường bắt đầu gây hại khoảng 10 – 15 ngày sau sạ đến cuối giai đoạn đẻ nhánh (40 – 50 ngày sau sạ), sâu tuổi nhỏ thường cạp nhu mô, cắn đứt mép lá thành dạng răng cưa, sâu tuổi lớn cắn đứt hai mảnh lá, nhả tơ gấp lại làm phao (triệu chứng gây hại của sâu phao), sâu có thể đục vào bẹ làm bẹ bị thối, vàng, nếu đục vào đỉnh sinh trưởng thì sẽ làm đọt bị chết (triệu chứng gây hại của sâu đục thân). Lúa bị hại sẽ kém phát triển, thấp cây, nảy chồi ít, bông ngắn, hạt nhỏ, lép nhiều.

Đặc tính sinh học

Bướm: Giống như bướm sâu cuốn lá nhỏ, nhưng cánh có màu vàng rơm đến nâu đậm, trên cánh có nhiều chấm trắng viền nâu, mép cánh có viền nâu đậm. Bướm đực có nhiều đường nét sặc sỡ hơn bướm cái, giữa cánh có đốm nâu lớn, cuối cánh có đốm trắng nhỏ. Bướm bay nhanh nhẹn hơn bướm sâu cuốn lá, bướm sâu phao, khi đậu cánh xếp lại, đầu quay xuống nước. Bướm sống 5 – 7 ngày.

Trứng: Sau khi vũ hóa 2 – 3 ngày, bướm chọn nơi có nước để đẻ trứng, bướm cái có thể đẻ 20 – 30 trứng mỗi lần và đẻ 2 – 3 lần (2 – 3 đêm). Trứng màu trắng, hơi tròn, được đẻ thành từng cụm hay thành 2 – 4 hàng ở mặt dưới lá gần bẹ hay ngay trên bẹ lá sát mực nước. Sau khi đẻ 5 – 7 ngày, trứng nở thành sâu non.

Sâu non: Sâu mới nở có màu trắng ngà, dài khoảng 4 – 5 mm, sâu lớn có màu vàng nhạt, rất dai. Sâu non thường bò lên cạp nhu mô, cắn lá làm phao, phao của sâu đục bẹ là do hai mảnh lá ghép lại, dẹp, sâu tuổi 1 dài khoảng 5 ngày, sâu tuổi 2 vừa ăn lá, vừa đục vào bẹ từ ngang mực nước xuống gốc lúa, từ tuổi 3 trở đi sâu đục vào thân là chính còn lá lúa chỉ làm phao, đặc biệt sâu có thể chui cả thân mình xuống nước để đục vào thân. Sâu đủ sức dài khoảng 20 mm, màu trắng sáp, bóng, mập, đầu có màu xám nâu. Thời gian sâu non dài khoảng 20 – 22 ngày.

Nhộng: Sâu hoá nhộng ở ngay vết đục hoặc đầu ghim vào bẹ lúa ngang mực nước. Thời gian hoá nhộng đến vũ hóa khoảng 8 ngày.

Phòng trị

Gieo sạ đồng loạt. Thăm đồng thường xuyên. Nếu phát hiện có nhiều xác bướm trên mực nước hay có dấu hiệu lúa bị sâu đục bẹ gây hại thì phải có biện pháp phòng trị ngay. Điều chỉnh nước trên ruộng: Giai đoạn lúa 10 – 20 ngày tuổi không nên để mực nước ngập quá sâu, giữ mức nước 3 – 5cm là đủ vừa tạo diều kiện cho lúa đẻ nhánh vừa hạn chế bướm đẻ trứng. Khi phát hiện sâu non nở rộ, nên tháo cạn nước trong vài ngày để hạn chế sâu di chuyển, lây lan và phun thuốc trừ sâu ngay.

Phun thuốc: Nếu phát hiện sớm, sâu tuổi 1 – 2, do lúc này sâu chỉ tấn công phần lá lúa trên mực nước nên có thể dùng các loại thuốc có tính tiếp xúc, vị độc, như Sec Sài Gòn 20, 50EC, Sairifos 585EC. Nếu phát hiện muộn, khi sâu lớn, đã đục vào thân, thì nên dùng các loại thuốc có tính lưu dẫn, thấm sâu, xông hơi như: MESSIGOLD (M450), AKULAGOLD 260EW,  Sairifos 585EC hay Lancer 97DF. Chú ý: Nên phun thuốc lúc sáng sớm hay chiều mát, cần chú ý rút cạn nước, khoanh vùng phun xịt, phun kỹ nơi sâu gây hại nặng.

(Nguồn tham khảo: Báo Nông nghiệp)


BỌ XÍT ĐEN HẠI LÚA

Theo ghi nhận, bọ xít đen đơi khi xuất hiện và gây hại trong vụ hè thu vào giai đoạn lúa đẻ nhánh đến làm đòng. Bọ xít đen có tên khoa học là Scotinophora sp, thuộc bộ Hemiptera, họ Pentatomidae.

Bọ xít đen (Black rice bug) là loại dịch hại ít quan trọng ở Việt Nam. Theo ghi nhận, bọ xít đen đơi khi xuất hiện và gây hại trong vụ hè thu vào giai đoạn lúa đẻ nhánh đến làm đòng. Bọ xít đen có tên khoa học là Scotinophora sp, thuộc bộ Hemiptera, họ Pentatomidae.

Đặc điểm sinh học

Vòng đời bọ xít đen trung bình 50 – 60 ngày, trong đó giai đoạn trứng từ 4 – 7 ngày, bọ non 40 – 45 ngày, trưởng thành đến đẻ trứng 10 – 15 ngày. Mỗi con cái đẻ khoảng 200 trứng. Trứng được đẻ thành từng ổ 10 – 15 trứng, xếp thành hàng dọc theo gân lá gần mặt nước. Ấu trùng mới nở có màu đỏ nâu, dạng giống trưởng thành, không cánh, trên lưng có những chấm đen. Ấu trùng khi nở thành từng đàn, di chuyển xuống gốc lúa, ban đêm bọ xít có khuynh hướng di chuyển lên trên. Bọ xít có 5 tuổi, trưởng thành có màu đen, dạng lục giác, dài khoảng 7 – 8 mm, hai bên đốt ngực có gai nhọn. Bọ xít non và trưởng thành đều gây hại bằng cách chích hút nhựa làm lúa vàng, héo, cây thấp lùn, đẻ nhánh kém, trổ bông kém, hạt bị lép, lửng, nếu mật số cao có thể gây cháy cục bộ như ghi nhận ở Tiền Giang và Long An trước đây. Khi bọ xít đen trưởng thành thích ánh sáng đèn. Trong điều kiện ruộng khô hay mùa đông, bọ trưởng thành trú ẩn trong các khe nứt trong đất hay các bờ cỏ ven ruộng lúa, khi gặp điều kiện thích hợp sẽ di chuyển đến ruộng lúa và gây hại.

Thiên địch

Thiên địch của bọ xít đen là các loài ong ký sinh trứng như Telenomus triptus, Nixon, Microphanurus artabazus, Nixon, bọ ngựa (Raying mantis), nấm ký sinh  (Paecilomyces farinosus) và ếch, nhái… ăn bọ non và trưởng thành.

Phòng trừ

Có thể áp dụng các biện pháp tổng hợp như sau:

(1) Làm sạch cỏ dại trong ruộng và các bờ bao chung quanh.

(2) Sạ, cấy với mật số vừa phải, không sạ, cấy dầy.

(3) Bón phân cân đối, hợp lý. Ở miền Nam nông dân có kinh nghiệm thường bón Ni-Ca, liều lượng 15 – 20kg/ha, vào giai đoạn 40 – 45 ngày sau sạ, giúp lúa cứng cáp, khoẻ mạnh, hạn chế đựơc sâu, bệnh phá hại.

(4) Khi phát hiện có bọ xít xuất hiện, không để ruộng khô và nếu bọ xuất hiện với mật số cao (5 con/bụi) phải phun thuốc trừ sâu.

(5) Thuốc trừ sâu: Kinh nghiệm nông dân ở Tiền Giang và Long An cho thấy nếu cần phòng trừ nên dùng các loại thuốc trừ sâu có tính tiếp xúc, vị độc và xông hơi mạnh, hướng vòi phun vào sát gốc lúa, phun vào lúc trời mát, trường hợp ruộng quá dầy, nếu có thể nên cho nước vào ruộng để bọ xít di chuyển lên trên rối mới phun thuốc sẽ hiệu quả hơn.

Về thuốc có thể sử dụng như sau: Sử dụng thuốc AKULAGOLD 260EW, hoạt chất: Prrofenofos 200 g/l + Thiamethoxam 50g/l + Beta – Cypermethrin 10g/l, Liều dùng: 0,5 – 1 lít/ha.

(Nguồn tham khảo: Báo nông nghiệp)


chet nhah

Phòng bệnh chết nhanh cây tiêu

Ông Dương Hùng Đỗ, Chủ tịch Viện cho biết: “Bệnh chết nhanh trên cây hồ tiêu nguyên nhân không do Phytopthora mà là chủ vườn đã bón quá nhiều phân hóa học và thuốc BVTV làm mất tính chất vật lý của đất”.

* Phytopthora không phát triển ở môi trường trung tính

Từ trước đến nay bà con vốn ám ảnh với bệnh chết nhanh trên cây hồ tiêu nhưng không có biện pháp điều trị, đành bất lực bỏ vườn.

Viện Công nghệ sinh học miền Nam tiến hành khảo sát lấy mẫu nước và đất về nghiên cứu sau thời gian đã có kết quả. Ông Dương Hùng Đỗ, Chủ tịch Viện cho biết: “Bệnh chết nhanh trên cây hồ tiêu nguyên nhân không do Phytopthora mà là chủ vườn đã bón quá nhiều phân hóa học và thuốc BVTV làm mất tính chất vật lý của đất”. Vi sinh vật đất chết hết, tạo ra một vùng ém khí chua axit, điều kiện này thuận lợi cho các loài nấm độc phát triển mạnh, vì lúc này pH chỉ còn 3 – 4 mà dao động rất lớn, cứ 1 đơn vị pH tụt xuống thì Fe (sắt), Al (nhôm) tăng lên 1.000 lần làm đất càng chua. Khi nấm độc phát triển mạnh thì sản sinh ra axit lần 2, toàn bộ rễ cây tiêu bị cháy hết lông hút, dẫn đến cây hồ tiêu không hút được nước nên héo rũ từ trên xuống rồi dẫn đến chết nhanh.

Nguyên nhân thường gặp:

Bệnh chết nhanh có dấu hiệu trên cây hồ tiêu thì cứ cây nào to nhất tốt nhất trong vườn sẽ chết trước vì bộ lá lớn hơn bộ rễ 30 lần. Bà con ra vườn thăm từ khoảng 11 giờ đến 14 giờ, nhìn lên ngọn cây hồ tiêu thấy biểu hiện lá hơi bị rũ xuống. Đây là hiện tượng ngủ ngày, sáng mai sẽ tươi tỉnh lại đó là đấu hiệu chết nhanh, khoảng từ 3 – 7 ngày cây sẽ chết. Lúc này, cây hồ tiêu thiếu nước do rễ cháy hết không hút được nước để trao đổi với lá, bà con dùng bình 16 lít phun nước sạch, nước phải có pH từ 6 – 8, nếu pH thấp quá cây sẽ héo thêm. Khi bà con phun, cây sẽ tươi tỉnh lại ngay nhưng vấn đề chính là bộ rễ, cây mà bộ rễ quá ít, lá nhiều thì rễ không hút nước đủ để cung cấp nuôi lá, lá sẽ héo rũ vì thiếu nước.

Cách phòng ngừa tiêu chết nhanh:

Bà con vặt bớt lá đi và thường xuyên phun nước cho cây khi nào bộ rễ ra đủ mới ngưng. Dùng phân bón Địa Long 2 kg trộn đều với 5 kg đất sạch, nhào như hồ xây đắp vào gốc từ mặt đất lên khoảng 20 cm, giữ độ ẩm thường xuyên sau 15 ngày cây sẽ cho ra bộ rễ mới. Cây tiêu bị bệnh chết nhanh Phần trên lá thường xuyên phun nước và lấy 2 kg Địa Long ngâm với 10 lít nước 12 tiếng, sau đó chắt lấy nước trong, đập 1 quả trứng gà và 1 bịt sữa tươi phun dinh dưỡng này lên cây, 7 ngày phun 1 lần, nước sạch thì phun hàng ngày. Phytophthora không phát triển ở môi trường trung tính cho nên bà con không nên dùng thuốc BVTV đổ xuống gốc mà phải đưa đất về môi trường trung tính, phân bón Địa Long làm được điều này. Bởi cứ một gram đất phì có hàng trăm triệu tế bào vi sinh vật thậm chí lên đến hàng tỷ, cây cần lấy của đất không dưới 40 nguyên tố hóa học đất đều phải nhờ vào vi sinh vật đất khoáng hóa nên bà con phải bảo vệ môi trường sinh thái đất. Viện Công nghệ sinh học miền Nam đã liên kết cùng Cty Phân bón Địa Long đưa ra các loại phân bón cải tạo đất phòng ngừa bệnh chết nhanh, chết chậm và tiêu điên bởi phân bón Địa Long cân bằng được pH đất. Nếu pH 3 – 4 thì nó sẽ nâng lên trên 6, pH 8 – 9 thì nó kéo xuống 7, lúc này là đất trung tính bà con bón phân cây hấp thụ được và phát huy tác dụng của phân bón, còn nếu pH dưới 4 mà bà bón phân thì sẽ mất phân 80% vì cây không hút được dinh dưỡng, nếu pH dưới 5 sẽ mất phân 60% , pH từ 5 – 5,5 sẽ mất phân 30%, pH từ 6 – 7 cây ăn phân không hết thì được cất trong keo đất làm đất tốt dần lên.

(Nguồn: Báo Nông nghiệp)


nh-309270359

Sâu vẽ bùa hại cây có múi

Sâu vẽ bùa gây hại quanh năm khi cây ra đọt non, gây hại nhiều vào tháng 7,8,9. Mức độ gây hại phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết và thức ăn của sâu.

Sâu vẽ bùa có tên khoa học là Phyllocnistis citrella Staint., họ Phyllocnistidae, bộ Lepidoptera. Sâu vẽ bùa xuất hiện ở nhiều nước trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ký chủ chính của sâu vẽ bùa là họ cây có múi – Rutaceae. Ngoài ra, sâu vẽ bùa còn tấn công măng cụt và một số cây trồng khác. Triệu chứng và tác hại Sâu vẽ bùa gây hại trên các chồi và lá non. Sâu non đục phá lá ở dưới phần biểu bì, ăn phần mô mềm. Sâu đi tới đâu biểu bì phồng lên tới đó, vẽ thành những đường ngoằn ngoèo nên được gọi là vẽ bùa, các lằn đục của sâu không bao giờ gặp nhau. Các lá bị sâu vẽ bùa gây hại thường bị co rúm lại và biến dạng nhất là những lá non, làm giảm diện tích quang hợp và làm giảm khả năng sinh trưởng của các chồi non. Ngoài ra các đường đục của sâu vẽ bùa còn tạo điều kiện cho vi khuẩn Xanthomonas campestris xâm nhập gây bệnh loét, làm lá bị rụng. Đặc điểm hình thái Trưởng thành là một loại ngài nhỏ, dài 2 – 3mm, toàn thân có màu vàng nhạt phớt ánh bạc, cánh trước có hình lá liễu, cánh sau nhỏ như hình kim, cả hai cánh đều có rìa lông dài. Trứng hình bầu dục, kích thước 0,3 – 0,4mm, mới đẻ trong suốt, gần nở màu trắng vàng. Ấu trùng mình dẹp, không chân, sâu mới nở dài 0,5mm màu xanh nhạt, đẫy sức dài 4mm màu vàng nhạt. Nhộng dài khoảng 2 mm, màu vàng nâu, hai bên thân mỗi đốt có một u lồi. Đặc điểm sinh học và sinh thái Vòng đời: 19 – 38 ngày. Trứng: 1 –  6 ngày; Sâu non: 4 – 10 ngày; Nhộng: 7 – 12 ngày; Trưởng thành: 7 – 10 ngày. Trưởng thành hoạt động mạnh vào chiều tối. Trứng được đẻ rời rạc ở cả hai mặt lá, phần lớn nằm ở hai bên gân chính. Sâu non mới nở thường đục chui qua lớp biểu bì của lá để ăn phần mô mềm. Đường đục của sâu vẽ bùa dài và lớn dần theo sức lớn của sâu. Nếu đường đục bị rách sâu non rất dễ bị chết. Khi đẫy sức sâu non đục ra mép lá, nhả tơ dệt kén để hóa nhộng ở đó. Một số yếu tố ảnh hưởng Sâu vẽ bùa gây hại quanh năm khi cây ra đọt non, gây hại nhiều vào tháng 7,8,9. Mức độ gây hại phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết và thức ăn của sâu. Thiên địch của sâu vẽ bùa: Thiên địch ký sinh: Có nhiều loài ong trong các họ Chalcidoidea và Ichneumonidea. Thiên địch bắt mồi: Kiến vàng. Biện pháp phòng trừ Chăm sóc cho cây sinh trưởng tốt, tỉa cành, tạo tán, bón thúc cho lộc non ra tập trung, hạn chế sự phá hại của sâu. Thu dọn lá rụng trong vườn đốt bỏ cũng hạn chế nguồn sâu. Trường hợp bị hại nặng thì có thể cắt bỏ các chồi lá bị sâu đem tập trung một chỗ để tiêu diệt. Biện pháp sử dụng thuốc BVTV hợp lý để bảo vệ nguồn thiên địch của sâu vẽ bùa trong – tự nhiên, nhân nuôi thiên địch như nuôi kiến vàng Oecophylla smaragdina là biện pháp có hiệu quả phòng trị sâu vẽ bùa cao Nên phun thuốc hoặc dầu khoáng ngay khi chồi mới nảy dài khoảng 2 – 4cm.


Những dịch bệnh hại cần chú ý trong tuần (từ 25/4 – 1/5)

Tại các tỉnh phía Bắc, rầy nâu, rầy lưng trắng tiếp tục phát sinh gây hại tăng nhanh trên lúa trà sớm trỗ bông – chín sữa, lúa chính vụ làm đòng….

1. Trên lúa:

a) Các tỉnh phía Bắc – Bệnh đạo ôn hại lá: Tiếp tục phát sinh gây hại trên lúa giai đoạn cuối đẻ nhánh – đứng cái, hại nặng trên những chân đất cát pha, thịt nhẹ, vùng bãi ven sông, vùng bán sơn địa thiếu nước, những chân ruộng bón nhiều đạm, vùng ổ dịch hàng năm, gây cháy lụi trên các giống nhiễm. Cần theo dõi thường xuyên và hướng dẫn các biện pháp phòng chống kịp thời. – Bệnh đạo ôn hại cổ bông: Phát sinh gây hại trên lúa trà sớm giai đoạn cuối đứng cái – làm đòng. Đặc biệt trên những ruộng gieo cấy các giống nhiễm, bị đạo ôn lá nặng, bón phân không cân đối, thừa những chân đất cát pha, thịt nhẹ, vùng bãi ven sông vùng bán sơn địa thiếu nước, gây cháy lụi trên các giống nhiễm đạm. – Chuột: Tiếp tục phát sinh gây hại tăng nhanh trên lúa trà sớm trỗ bông – chín sữa, lúa chính vụ làm đòng tại các tỉnh. – Rầy nâu, rầy lưng trắng: Tiếp tục phát sinh gây hại tăng nhanh trên lúa trà sớm trỗ bông – chín sữa, lúa chính vụ làm đòng. Một số diện tích có mật độ cao xảy ra tình trạng cháy chòm nếu không được phòng trừ tốt. – Sâu cuốn lá nhỏ: Trưởng thành lứa 2 tiếp tục vũ hóa. – Các đối tượng khác gây hại nhẹ, rải rác trên các trà lúa.

b) Các tỉnh Nam Trung bộ và Tây Nguyên – Sâu đục thân 2 chấm, bệnh khô vằn, rầy nâu, rầy lưng trắng… rải rác hại nhẹ trên lúa đông xuân muộn trỗ chắc. – Sâu cuốn lá nhỏ phát sinh hại nhẹ lúa xuân hè giai đoạn đẻ nhánh – cuối đẻ nhánh; sâu keo, bọ trĩ… phát sinh hại chủ yếu lúa xuân hè, hè thu sớm giai đoạn mạ – đẻ nhánh. – Chuột: Hại nhẹ chủ yếu trên lúa xuân hè giai đoạn đẻ nhánh – cuối đẻ và lúa hè thu sớm giai đoạn gieo sạ – đẻ nhánh. – Ốc bươu vàng: Tập trung ở vùng trũng thấp.

c) Các tỉnh phía Nam – Rầy nâu trên đồng phổ biến tuổi 5 – trưởng thành, tuy nhiên sẽ không tập trung mà tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng khu vực. Vì vậy các tỉnh không nên chủ quan, cần quản lý tốt nguồn rầy nâu tại chỗ nhằm hạn chế thấp nhất khả năng lan truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá do rầy nâu gây ra cho lúa hè thu. Ngoài ra cũng cần lưu ý đến các đối tượng như cỏ dại nhất là lúa cỏ, bọ trĩ chú ý trên những ruộng khô thiếu nước; sâu năn, rầy phấn trắng, bệnh bạc lá ở giai đoạn đẻ nhánh – đòng trỗ.

2. Trên cây trồng khác:

Sâu đục thân, sâu cắn lá hại ngô; sâu đục thân đậu tương; sâu xanh, sâu tơ, bọ nhảy… gây hại rau có chiều hướng gia tăng, cần theo dõi và phòng trừ kịp thời. Cây hồ tiêu: Tuyến trùng rễ, bệnh chết nhanh, chết chậm hại tăng. Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại nhẹ. Cây nhãn: Bệnh chổi rồng nhãn tiếp tục gây hại ở các tỉnh ĐBSCL.

(Nguồn: CỤC BVTV)


Côn trùng, nguồn thức ăn tốt…

Trước kia côn trùng (thường được gọi là sâu bọ) là loài động vật bỏ đi. Một số tộc người, đặc biệt là ở châu Âu và châu Mỹ còn ghê tởm các loài sâu bọ. Do đó người ta thường nói “đồ sâu bọ” có nghĩa là đồ bỏ đi….

Gần đây, nhận thức này đã thay đổi. Hiện nay trên thế giới, tỷ lệ người coi côn trùng là thức ăn tốt chiếm 64%, là thức ăn bình thường chiếm 20%, là thức ăn “ghê tởm” chỉ chiếm 16%. Đã có khoảng 2 tỷ người đã bổ sung chất dinh dưỡng bằng côn trùng. Vừa qua, Tổ chức Nông nghiệp và lương thực (FAO) của Liên Hiệp quốc đã khuyến khích việc sử dụng côn trùng làm thức ăn cho con người và vật nuôi. Ưu điểm của việc sử dụng côn trùng làm thức ăn cho con người và vật nuôi là: – Có nhiều loại côn trùng. – Côn trùng có khả năng thích ứng với nhiều điều kiện ngoại cảnh khác nhau. – Côn trùng có vòng đời ngắn, tái tạo đàn nhanh. – Điều kiện nuôi dưỡng côn trùng đơn giản, không tốn kém nhân công, vật tư. – Côn trùng không cần năng lượng để duy trì nhiệt độ cơ thể. – Hiệu quả chuyển hóa thức ăn tốt: Để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm bò phải mất một thời gian dài hơn dế 12 lần. Khả năng chuyển hóa thức ăn thành sinh khối và dế lớn hơn bò thịt 5 lần. – Chất lượng sản phẩm tốt: Tỷ lệ protein, chất lượng trong côn trùng cao. Tỷ lệ protein của mọt gỗ là 30% và của ong bắp cày là 80%. Năng lượng của 100gr côn trùng cao hơn năng lượng của ngũ cốc, rau và thịt. Lượng kẽm, đồng, sắt, magiê ở côn trùng cao hơn thịt bò, cá, thịt gà tây, sữa và trứng. – Thức ăn của côn trùng chủ yếu là cây cỏ (thức ăn thực vật), các chất phế thải nông, công nghiệp và đời sống, không cạnh tranh lương thực với loài người. – Nuôi côn trùng không làm cho môi trường bị ô nhiễm, đặc biệt côn trùng không tạo ra chất thải gây hiệu ứng nhà kính (một nguyên nhân làm cho bầu không khí của trái đất nóng lên và nước biển dâng). Trên thế giới đã có nhiều nước sử dụng côn trùng làm thức ăn, đặc biệt là các loài kiến: – Kiến mật, có chiếc bụng căng phồng chứa đầy mật, được thổ dân Úc rất ưa chuộng. – Kiến cắt, có mùi vị như thịt xông khói, được người Nam Mỹ rất ưa thích. – Kiến chanh, có mùi vị như chanh được các thổ dân ở Amazon ưa dùng. – Ngoài ra người dân Colombia, Guatemala, Trung Quốc và Brazil cũng hay sử dụng các loài kiến của nước họ. Ở Việt Nam, từ lâu đã có một số món ăn từ côn trùng khá phổ biến: nhộng tằm – cà cuống – châu chấu – dế mèn – ấu trùng của các loại ong, ve sầu. Nhưng tất cả các loài côn trùng này đều là phụ phẩm của các ngành nghề (nhộng tằm là của nghề tằm tơ) hoặc là côn trùng bắt được trong tự nhiên (cà cuống – châu chấu – dế mèn – ấu trùng của ong…) chưa có loại côn trùng do người ta gây nuôi. Để phát triển chăn nuôi gia cầm (một loài vật nuôi có hiệu suất chuyển hóa thức ăn thành sản phẩm chăn nuôi có hiệu quả cao: 1,5 – 1,8 kg thức ăn cho 1kg sản phẩm quay vòng nhanh), người ta đã bắt đầu gây nuôi các loại côn trùng để thay thế cho protein thực vật, đặc biệt là thay thế cho đậu tương (năng suất đậu tương ở Việt Nam thấp, giá thành cao, phải nhập nội từ Nam Mỹ và Hoa Kỳ)….

(Nguồn: Báo Nông nghiệp)